Thời gian

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Liên hệ

    Click [vào đây] để gửi e-mail cho tôi.

    Các website liên kết

    "Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người" (Hồ Chí Minh)

    Chào mừng quý vị đến với website của Trần Thị Thùy Phương - Phan Thị Tuyết Ánh - Trần Thị Minh Hà

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.

    LỊCH SỬ LỚP 4

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Trần Thị Thùy Phương (trang riêng)
    Ngày gửi: 19h:34' 18-11-2013
    Dung lượng: 12.8 MB
    Số lượt tải: 9
    Số lượt thích: 0 người
    PHẦN LỊCH SỬ LỚP 4
    Bài 1
    NƯỚC VĂN LANG
    Hình 1: Lược đồ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay
    1. Nội dung
    Trên địa phận Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay, nước Văn Lang đã ra đời. Tiếp đó là nước Âu Lạc. Bắc Bộ gồm các tỉnh: Phú Thọ, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình và các thành phố Hà Nội, Hải Phòng …
    Bắc Trung Bộ bao gồm các tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế. Đa số các con sông lớn như sông Hồng, sông Lô, sông Đà, sông Mã, sông Cả đều chảy qua địa phận của vùng này.
    Trên địa phận Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ có đồng bằng Bắc Bộ, đất đai phì nhiêu, màu mỡ. Do điều kiện tự nhiên ưu đãi nên ngay từ thời xa xưa, cư dân đã tụ họp ở đây để làm ăn sinh sống và dựng lên nhà nước đầu tiên của nước ta.

    2. Phương pháp sử dụng
    Lược đồ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay được sử dụng để dạy về vị trí địa lý của nước Văn Lang. Giáo viên phóng to lược đồ, treo lên tường kết hợp vẽ đường trục phân biệt các hướng Bắc, Nam, Đông, Tây lên bảng. Tiếp đó, giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào đường trục, kênh chữ ghi trên lược đồ và sách giáo khoa để trả lời các câu hỏi:
    - Nước Văn Lang nằm trên địa phận nào trong lược đồ?
    Sau khi học sinh trao đổi, giáo viên chốt lại những ý chính (dựa theo nội dung trên).
    Tiếp theo, giáo viên kẻ đường trục thời gian lên bảng để phân biệt năm Công nguyên, trước Công nguyên, sau Công nguyên. Dựa vào trục thời gian, giáo viên yêu cầu học sinh xác định thời điểm ta đời của nước Văn Lang. Cuối cùng giáo viên chốt lại: Vào khoảng năm 700 TCN ở khu vực sông Hồng, sông Mã và sông Cả, nơi người Lạc Việt sinh sống, nước Văn Lang đã ra đời.


    Hình 2: Lăng Vua Hùng
    1. Nội dung
    Lăng Vua Hùng nằm trong quần thể di tích Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh, thuộc địa phận huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ ngày nay, cách Thủ đô Hà Nội 80 km.
    Lăng Vua Hùng được xây dựng trên khoảng đất cao rợp bóng cây xanh, nhìn về hướng Đông Nam, kiến trúc theo hình khối vuông, có 8 mái. Đỉnh chóp đắp hình rồng uốn lượn, khắc chìm ba chữ Hùng Vương Lăng
    Trong Lăng có mộ Hùng Vương. Tương truyền khi mất Hùng Vương có căn dặn: "Sau khi chết, hãy chôn ta ở trên núi Nghĩa Lĩnh để ta còn trông nom bờ cõi cho con cháu mai sau". Người thời đó đã làm theo di chúc của Hùng Vương.
    2. Phương pháp sử dụng
    Bức ảnh "Lăng vua Hùng" được sử dụng sau khi giáo viên giới thiệu về người đứng đầu nhà nước và tình hình xã hội nước Văn Lang. Giáo viên cho học sinh quan sát bức ảnh và đặt câu hỏi:
    - Lăng vua Hùng được xây dựng ở đâu?
    - Nhân dân ta xây dựng Lăng để làm gì?
    Tiếp đó, giáo viên dựa vào nội dung trên để miêu tả và chốt lại: Nhân dân ta xây dựng Lăng vua Hùng để tưởng nhớ công ơn dựng nước của các vua Hùng. Hội đền Hùng hằng năm được mở vào ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch và ngày này đã trở thành ngày Quốc giỗ của dân tộc.
    Hình 3: Lưỡi cày đồng
    1. Nội dung
    Đây là lưỡi cày bằng đồng thuộc nền văn hóa Đông Sơn, được tìm thấy ở nhiều nơi trên đất Bắc Bộ. Lưỡi cày đồng có hình cánh bướm, có sống ở giữa, hai bên có gờ nhỏ, tạo nên sự chắc chắn của lưỡi cày. Mũi cày nhọn, hình tam giác, phần cuối của lưỡi có lỗ để tra vào thân cày. Khi cày có thể dùng sức kéo của trâu bò hoặc của người.
    2. Phương pháp sử dụng
    Hình lưỡi cày đồng được sử dụng khi miêu tả về đời sống sản xuất của người Văn Lang. Giáo viên cho học sinh quan sát hình, kết hợp với sách giáo khoa để trả lời các câu hỏi:
    - Hình dáng của lưỡi cày như thế nào?
    - Lưỡi cày dùng để làm gì?
    - Việc chế tạo ra lưỡi cày đồng chứng tỏ điều gì? (Chứng tỏ ông cha ta biết làm ruộng và đúc đồng)
    Sau khi học sinh trả lời, giáo viên dựa vào nội dung trên để miêu tả và chốt lại: Lưỡi cày được dùng để cày ruộng. Điều đó chứng tỏ thời các vua Hùng, nhân dân ta đã biết làm
     
    Gửi ý kiến

    ↓ CHÚ Ý: Bài giảng này được nén lại dưới dạng ZIP và có thể chứa nhiều file. Hệ thống chỉ hiển thị 1 file trong số đó, đề nghị các thầy cô KIỂM TRA KỸ TRƯỚC KHI NHẬN XÉT  ↓