Thời gian

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Liên hệ

    Click [vào đây] để gửi e-mail cho tôi.

    Các website liên kết

    "Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người" (Hồ Chí Minh)

    Chào mừng quý vị đến với website của Trần Thị Thùy Phương - Phan Thị Tuyết Ánh - Trần Thị Minh Hà

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Sáng kiến kinh nghiệm >

    Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ biết liên kết câu khi viết đoạn văn.

               Tên đề tài: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 2 Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ biết liên kết câu khi viết đoạn văn.                                    

                                                LỜI MỞ ĐẦU

             Tiếng Việt là tiếng nói phổ thông của tất cả các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam . Mọi người dân Việt Nam từ trẻ đến già muốn đọc, nói, trao đổi tâm tư tình cảm với nhau đều phải dùng tiếng Việt - Tiếng mẹ đẻ. Tiếng nói và chữ viết này đã được ông cha ta giữ gìn và gọt giũa, cho đến ngày nay Tiếng Việt ngày càng phong phú.

              Tiếng Việt có một vai trò quan trọng trong cuộc sống của mỗi người và cả dân tộc ta. Tiếng Việt là thứ tiếng nói có chữ viết. Học Tiếng Việt không chỉ biết nói mà còn phải biết viết, biết sử dụng thành thạo chữ viết tiếng Việt. Nhưng nói, viết như thế nào để người nghe, người đọc hiểu được ( tức là nói, viết thành câu ), từ đó mới dẫn đến viết câu văn hay, có hình ảnh. Đây là vấn đề quan trọng đối với học sinh trong việc học môn Tập làm văn , đặc biệt là trong tiết tập làm vănở lớp 2. Tiết tập làm văn là một hoạt động cảm thụ và tiếp nhận văn học khác với những tiết Tập làm văn khác. Nó được diễn ra trên lớp học, nó vừa mang tính tập thể nhưng quá trình tiếp nhận lại diễn ra trong từng cá thể, bằng tâm sinh lý, vốn sống và cách cảm nhận riêng của từng học sinh. Giờ Tập làm văn trên lớp không chỉ mang tính khoa học mà còn có tính nghệ thuật. Nhiệm vụ của giáo viên là  hướng dẫn học sinh cách dùng từ, diễn đạt (nói, viết)...để tạo nên văn hay, trôi chảy, mạch lạc.

     

     

     

     


    I/ ĐẶT VẤN ĐỀ

              Có thể nói rằng Tiếng Việt là môn học có nhiều phân môn và chiếm nhiều thời gian học tập của học sinh trong suốt một năm học, nhất là với lớp 2. Mục tiêu của môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học nói chung và của môn tiếng Việt ở lớp 2 nói riêng là:

              - Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng sử dụng tiếng Việt (nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.

              - Thông qua việc học và dạy và học tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác tư duy. Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về tiếng.Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên và con người, về văn hoá, văn học của Việt Nam và nước ngoài và điều quan trọng là bồi dưỡng tình yêu tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách của con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa: có tri thức, thấm nhuần truyền thống tốt đẹp của dân tộc, ưa chuộng lối sống lành mạnh, ham thích làm việc.

              Trong đó phân môn tập làm văn được nhìn nhận với tầm quan trọng đặc biệt vì nó mang tính thực hành cao. Bài tập làm văn là sản phẩm tổng hợp của sự vận dụng các kiến thức và bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết mà học sinh tiếp nhận được trong quá trình học tập môn Tiếng Việt. Khi học sinh học môn tập làm văn, bốn kĩ năng nghe, đọc, viết, nói được vận dụng thường xuyên và nếu học sinh vận dụng tốt, thành thạo, thuần thục bốn kĩ năng này thì hiệu quả học tập của phân môn ấy rất cao.

              Trong quá trình dạy học, giáo viên cần chú trọng việc rèn kĩ năng, nhận biết, óc phán đoán, cách sử dụng từ ngữ gợi tả, cách xếp ý từ trong câu. . . Các bài tập rèn kĩ năng thường được nâng dần từ thấp đến cao, từ dễ đến khó, luyện tập từng phần, luyện tập toàn bài. Sao cho sau quá trình luyện tập, học sinh có ý thức nói và viết văn theo nhiều thể loại khác nhau đã học như miêu tả, kể chuyện, viết thư...  Mỗi bài Tập làm văn của học sinh thể hiện kiến thức tư duy, tình cảm của mỗi em. Nội dung của dạy Tập làm văn lớp 2 là:

    -         Dạy các em thực hành các nghi thức lời nói tối thiểu: chào hỏi, tự giới thiệu, cảm ơn, xin lỗi, nhờ cậy, yêu cầu, khẳng định, phủ định, tán thành, từ chối, chia vui, chia buồn.

    -         Các em có một số hiểu biết và kĩ năng phục vụ học tập và đời sống: khai bản tự thuật ngắn, viết bức thư ngắn, nhận và gọi điện thoại, đọc và lập danh sách học sinh, tra mục lục sách , đọc thời khóa biểu, đọc và lập thời gian biểu,…

    -         Bước đầu dạy các em cách tổ chức đoạn văn, bài văn, rèn kĩ năng diễn đạt ( nói, viết ) thông qua kể một việc đơn giản hoặc tả sơ lược về người, vât xung quanh theo gợi ý bằng tranh, bằng câu hỏi.

    -         Rèn kĩ năng nghe cho các em thông qua các bài tập kể chuyện hoặc nêu ý chính của câu chuyện đã nghe.

                                


        II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

    1. 1.     Thực trạng:

             Đa số học sinh lớp 1 mới lên lớp 2 nên việc hình thành đoạn văn ngắn đối với các em thật là mới lạ. Học sinh chưa biết sử dụng đúng dấu câu, liên kết đoạn văn còn lỏng lẻo, các câu trong đoạn chưa có sự liên kết về mặc nội dung và ý nghĩa. Phần lớn các em chưa biết diễn đạt thành câu gãy gọn, ý còn nghèo nàn và cách sắp xếp không lô-gic. Chất lượng bài làm của các em không cao.

           -Ví dụ: ……..

     1 học sinh viết đoạn văn “Kể về người thân”:

                    Nhà em gồm có ông nội, bà nội, có chị, có em và em của em. Nhà em có bảy người, cả mẹ và bố em nữa. Chị em học Trường Huỳnh Thúc Kháng, còn bà nội đi bán cá. Ông nội đi xe thồ. Em của em học trường mẫu giáo Bình Minh còn mẹ em đi bán cá, bố em làm công nhân. Em học Trường Huỳnh Ngọc Huệ. Nhà em ai cũng thương nhau.

               -Ví dụ 2: ……..

    Một số em sắp xếp các trong truyện “Kiến và chim gáy” chưa đúng thứ tự, chưa xác định được câu mở đoạn và kết đoạn.:

               Một hôm Kiến khát quá bèn bò xuống suối uống nước. Kiến bám vào cành cây, thoát chết. Chẳng may trượt ngã, Kiến bị dòng nước cuốn đi. Chim Gáy đậu trên cây, thấy Kiến bị nạn, vội bay đi gắp một cành khô thả xuống dòng suối để cứu.

             Hơn nữa, một số em làm bài đúng nhưng chưa nắm được sự liên kết giữa các câu trong đoạn là do phụ huynh đại đa số ít có điều kiện quan tâm đến con em nên phần lớn mua sắm cho các em các loại sách tham khảo như: “Luyện tập làm văn lớp 2”, “Giúp em học tốt môn Tiếng Việt”, “Tuyển chọn các bài văn hay”…Cha mẹ đi làm, học sinh khi chuẩn bị bài ở nhà thì chỉ việc mở sách ra sao chép lại, thậm chí có em còn đánh sẵn số thứ tự bằng bút chì ngay vào sách giáo khoa phần bài tập sắp xếp các câu thành đoạn. Giáo viên khi chấm vở, cứ lầm tưởng học trò mình đã hiểu bài.

            Một số học sinh không ham thích học phân môn Tập làm văn, đa số

    các em còn nhút nhát, không dám bộc lộ những suy nghĩ của mình trước kiến thức, chưa có sáng tạo trong cách viết câu mở đoạn và kết đoạn.

     

     

    Nguyên nhân:

           Những nguyên nhân dẫn đến việc dẫn đến việc học sinh viết đoạn văn chưa có sự liên kết như trên:

    -         Một là: Do mới từ lớp 1 lên các em chưa biết sử dụng dấu câu: dấu chấm, dấu phẩy… một cách hợp lí.

    -         Hai là:  Học sinh không hiểu đầy đủ cấu trúc câu, cách dùng từ, nhiều em còn sai chính tả.

    -         Ba là: Học sinh lười quan sát và suy nghĩ , vốn từ ngữ còn nghèo nàn, không biết cách diễn đạt, liên kết các câu trong đoạn còn lỏng lẻo, rời rạc về ý nghĩa.

    -         Bốn là: Giáo viên chưa quan tâm một cách đúng mức đến việc rèn kĩ năng nói và viết cho học sinh, nhất là cách liên kết các câu trong đoạn.

         Từ những nguyên nhân trên, tôi đã vận dụng các biện pháp sau nhằm giúp học sinh tự đánh giá mức độ hiểu và kĩ năng thực hành các bài viết đoạn văn ngắn, tôi hướng dẫn các em thực hành các dạng bài tập từ dễ đến khó qua các biện pháp như sau:

       * Biện pháp 1: Viết đúng dấu câu trong đoạn văn cho trước theo các bước:

    -         Bước 1: Đọc đoạn văn.

    -         Bước 2: Phát hiện lỗi dấu câu viết sai

    -         Bước 3: Chép lại đoạn văn đó cho đúng dấu chấm câu.

          Ví dụ 1 : TV (TC/ ….)

          Trống tan trường, đã điểm. Trời mưa to. Hòa quên, mang áo mưa. Lan mời bạn. Đi chung với mình. Đôi bạn vui vẻ ra về.

          Ví dụ 2:

          Đầu năm học mới, Huệ nhận được món quà.  Của bố đó là một chiếc cặp rất xinh, cặp có quai. Đeo hôm khai giảng, ai cũng phải nhìn Huệ với chiếc cặp mới. Huệ thầm hứa học chăm, học giỏi cho bố vui lòng.

          Với hai ví dụ trên, học sinh thực hiện lần lượt theo các bước hướng dẫn trên học sinh đã viết lại được hai đoạn văn và sử dụng đúng các dấu câu như sau:

                  a.Trống tan trường đã điểm. Trời mưa to. Hòa quên mang áo mưa. Lan mời bạn đi chung với mình. Đôi bạn vui vẻ ra về.

                  b. Đầu năm học mới, Huệ nhận được món quà của bố. Đó là một chiếc cặp rất xinh.Cặp có quai đeo. Hôm khai giảng, ai cũng phải nhìn Huệ với chiếc cặp mới. Huệ thầm hứa học chăm, học giỏi cho bố vui lòng.

      

           *Biện pháp 2: Giúp học sinh nắm vững bố cục đoạn văn

    v    Dạng 1: Xác định bố cục của đoạn qua đoạn văn mẫu cho trước.

    a. Ví dụ:                    Ngôi trường mới 

            Trường mới của em xây trên nền ngôi trường cũ lợp lá. Nhìn từ xa, những mảng tường vàng, ngói đỏ như những cánh hoa lấp ló trong cây. Em bước vào lớp, vừa bỡ ngỡ vừa thấy quen thân. Tường vôi trắng, cánh cửa xanh, bàn ghế gỗ xoan đào nổi vân như lụa. Em thấy tất cả đều sang lên và thơm tho trong nắng mùa thu.

                                                                    Ngô Quân Miệng

                       (Đoạn 1 trang 50 sách TiếngViệt lớp 2 tập 1)

     

    • Gv hướng dẫn học sinh theo các bước sau:

    -         Bước 1: Đọc thầm

    -         Bước 2: Xác định đoạn văn có mấy câu, đánh số thứ tự bằng bút chì.

    -         Bước 3:  Tìm hiểu đoạn văn.

                + Yêu cầu học sinh xác định câu mở đoạn.( Trường mới của em xây trên nền ngôi trường cũ lợp lá)

                + Câu mở đoạn nêu ý gì? (Giới thiệu sự xuất hiện của ngôi trường mới)

    • Sau khi học sinh nêu giáo viên chốt: Câu mở đoạn thường mang tính chất giới thiệu, có khi nó là một câu biểu lộ cảm xúc, nêu lên một nhận xét.

                + Học sinh tiếp tục tìm hiểu các câu tiếp theo và cũng tìm hiểu nội dung từng câu nêu gì?

    • Giáo viên chốt: Những câu tiếp theo là thân đoạn hay còn gọi là các câu phát triển ý của đoạn .

                 + Yêu cầu học sinh đọc câu cuối cùng của đoạn văn.( Em thấy tất cả đều sáng lên và thơm tho trong nắng mùa thu.

                 + Câu cuối nêu ý gì?

    • Giáo viên chốt: Câu cuối là câu kết đoạn, thường là câu khái quát chung hay biểu lộ tình cảm.

    -         Bước 4: Nâng cao (cảm thụ ở mức độ đơn giản)

       + Trong đoạn văn trên, em thích câu văn nào nhất? Vì sao?

                Giáo viên cho học sinh tự do phát biểu và hỏi thêm: “Vì sao em thích?”

    -         Đối với câu hỏi này, học sinh có thể trả lời được  hoặc không bởi mức độ lớp 2 khả năng nhận thức của các em còn non nớt. Các em có thể trả lời hoặc không trả lời được vì sao cũng được. Trên cơ sở đó, giáo viên là người định hướng cho học sinh những câu văn hay, những hình ảnh đẹp thông qua các từ ngữ, biện pháp tu từ đơn giản như hình ảnh so sánh: “Nhìn từ xa, những mảng tường vàng, ngói đỏ như những cánh hoa lấp ló trong cây.”…hay  “Tường vôi trắng, cánh cửa xanh, bàn ghế gỗ xoan đào nổi vân như lụa”. và các từ ngữ gợi tả như: tường vàng, ngói đỏ… các từ láy: lấp ló, thơm tho…(chỉ ở mức độ làm quen).

    -         Bước 5: Vận dụng:

    -         Học sinh tự tìm một đoạn văn trong sách Tiếng Việt và thực hiện theo 4 bước trên.

    • Giáo viên chuẩn bị các phiếu học tập sau để các em thực hành xác định bố cục của đoạn văn theo các bước như trên:

                                   PHIẾU HỌC TẬP

             Đọc thầm đoạn văn sau và cho biết:

            Chích bông là con chim bé xinh đẹp trong thế giới loài chim. Hai chân xinh xinh bằng hai chiếc tăm. Thế mà hai cái chân tăm ấy rất nhanh nhẹn, được việc, nhảy cứ liên biến. hai chiếc cánh nhỏ xíu. Cánh nhỏ mà xoải nhanh vun vút. Cặp mỏ chích bông tí tẹo bằng hai mảnh vỏ trấu chắp lại. thế mà quý lắm đấy. cặp mỏ tí hon ấy gắp sâu trên lá nhanh thoăn thoắt.... Chích bông xinh đẹp chẳng những là bạn của trẻ em mà còn là bạn của bà con nông dân.

                                                                       Theo Tô Hoài

    1. Đoạn văn trên gồm có mấy câu?
    2. Hãy đánh số thứ tự các câu bằng bút chì?
    3. Hãy xác định câu mở đoạn và câu kết đoạn? Các câu đó nêu lên ý gì?
    4. Các câu ở phần thân đoạn nêu lên ý gì?

    e. Em thích câu văn miêu tả nào nhất? Vì sao?

                Tóm lại, với giải pháp này, tôi vừa cung cấp cho học sinh về bố cục của một đoạn văn ngắn, vừa kiểm tra được mức độ cảm thụ văn học của các em ở mức độ sơ giản và là phương tiện để chuyển tải những kiến thức, những từ ngữ cần ghi nhớ đến học sinh. Bước đầu học sinh đã mạnh dạn bộc lộ những hiểu biết của mình dưới sự hướng dẫn gợi mở của giáo viên. Chính điều đó đã phục vụ đắc lực vào dạng bài tập dạng 2 nâng cao hơn một chút.

    v    Dạng 2: ………………../38 đề + scan

          Ví dụ 1:

       1. Sắp xếp lại trật tự các câu văn sau theo nội dung bức tranh 2, SGK Tiếng Việt 2 trang 38 bằng cách ghi rõ số thứ tự vào    :

    1. Hôm qua, chẳng rõ thế nào mà cậu làm vỡ lọ hoa của mẹ.
    2. Mẹ đang nấu cơm dưới bếp vội chạy lên.
    3. Khắp nhà đầy những mảnh thủy tinh.
    4. Tú là một cậu bé hiếu động và nghịch ngợm.
    5. Tú hoảng quá, vội chạy đến bên mẹ khoanh tay nói: “Con xin lỗi mẹ ạ!”

         2. Em hãy sắp xếp lại đúng thứ tự các câu văn trên?

    • Liên hệ bản thân:

    - Hoặc em có nhận xét gì về tính cách của Tú?  (Câu giới thiệu)

    -         Nếu em là Tú, em sẽ hành động như thế nào?

         Ví dụ 2: Sắp xếp lại trật tự các câu văn sau theo nội dung bức tranh 1,2 SGK Tiếng Việt 2 trang 9 bằng cách ghi rõ số thứ tự vào    :

    1. Một hôm, mẹ đi siêu thị về trên tay cầm một chú gấu bông rất đẹp.
    2. Lan là một cô bé ngoan ngoãn và luôn hiếu thảo với mẹ.
    3. Đó là một thứ đồ chơi mà bấy lâu nay Lan hằng mong ước.
    4. Lan thích quá chạy ào tới đưa hai tay xin mẹ vừa nói: “Con cảm ơn mẹ !”

    Sau bài tập, tôi cũng liên hệ giáo dục các em biết nói lời cảm ơn

    khi được người khác giúp đỡ.

               Với cách làm này, một lần nữa tôi đã giúp học sinh củng cố về cách viết một đoạn văn ngắn có bố cục chặc chẽ, câu văn đúng ngữ pháp, trong sáng về ý nghĩa. Đồng thời, học sinh còn có sự sáng tạo trong cách viết câu mở đoạn và câu kết đoạn…

            Thông qua biện pháp này, tôi nhận thấy ngay cả những em nhút nhát cũng đã mạnh dạn bộc lộ những suy nghĩ của mình trước kiến thức.. bước đầu tôi đã thu được những thành công đáng kể. Các em không còn sợ sệt, ngần ngại mỗi khi có giờ Tập làm văn  nữa.Cứ như vậy, tối đã nâng bài vận dụng lên từng bước 1.

     

    v    Dạng 3: Viết tiếp vào đoạn văn buông lửng: ( tuần 5)

         Ví dụ 1: Cần thêm  một câu để mẩu chuyện dưới đây được liền mạch. Hãy chọn câu ấy rồi viết lại cho hoàn chỉnh:

          Một bạn trai đang vẽ lên tường một chú ngựa rất ngộ nghĩnh. Một bạn gái đi qua, bạn trai liền hỏi xem bức vẽ đó có đẹp không. Hai bạn hiểu ra. Hai bạn cùng lấy vôi quét lại tường cho sạch sẽ.

        a/ Bạn gái khen bức vẽ.

             b/ Bạn gái khuyên bạn trai không nên vẽ bậy lên tường.

             c/ Bạn gái vội đi, không nhìn bức vẽ.

     

         Ví dụ 2: Hãy kể tiếp câu chuyện: “ Chiếc bút mực”  với chi tiết khi tan học Lan và Mai gặp nhau SGK Tiếng Tiệt 2 tập 1 trang 40.

    -         Giáo viên đưa cụ thể bài làm của học sinh theo nhiều hướng khác nhau.

    -          Giáo viên gợi ý: Đây là bài tập kể chuyện sáng tạo thêm chi tiết. em có thể thêm chi tiết: Hai bạn Lan và Mai gặp nhau. Lan hỏi, Mai đáp lại.

     

                 Thông qua dạng bài tập này, học sinh được củng cố về kết cấu một đoạn văn một cách chặc chẽ nghĩa là để đoạn văn được liền mạch.

     

    v    Dạng 4: Viết đoạn văn theo chủ đề cho trước:

                     Đây là dạng bài tương đối khó đối với học sinh lớp 2. Để giúp cho học sinh dễ dàng làm quen với dạng bài tập này tôi thường cho học sinh làm các bài tập ứng dụng cơ bản mà học sinh lớp 2 cần nắm vững thông qua các bài tập sau:

                    1: Lựa chọn câu để viết theo một chủ đề nhất định.

     Ví dụ 1:

                  a. Năm lớp Một,em được học với cô giáo Mai.

    1. Em cùng đi học với bạn Nhân cạnh nhà.
    2. Cô giáo Mai rất hiền.
    3. Cô thường đến tận từng bàn giúp học sinh tập viết.
    4. Ngoài sân trường có nhiều cây bóng mát.
    5. Chúng em thường quây quần dưới gốc cây.
    6. Em rất yêu mến cô giáo Mai.

               Giáo viên cho học sinh tự làm, nếu các em lúng túng, giáo viên có thể gợi ý như sau:

                   + Đếm số câu trong bài tập trên.

                    + Các câu trên nói về vấn đề gì? ( 3 vấn đề: cô giáo Mai, cây, em và bạn Nhân)

                  +  Mỗi vấn đề mấy câu?

                  + Các câu trên chủ yếu nói về vấn đề gì nhiều nhất? (Cô giáo Mai)

                    Trên cơ sở đó giáo dục học sinh dễ dàng  xác định được chủ đề chính cần nói đến. Học sinh sẽ vận dụng những kiến thức về kết cấu đoạn văn mà viết lại theo yêu cầu của đề bài.

                   Qua cách hướng dẫn trên, học sinh đã viết được đoạn văn tả cô giáo .

                               Minh họa bài làm của học sinh

     

                  Năm lớp Một em được học cô giáo Mai. Cô giáo Mai rất hiền. Cô thường đến tận từng bàn giúp học sinh tập viết. Em rất yêu mến cô giáo Mai.

                    -  Đối với học sinh giỏi, tôi yêu cầu học sinh mở rộng đoạn văn trên dưới dạng bài tập sau: ( Nâng cao hơn)

               Dựa vào các câu đã chọn và thêm một câu nữa để có đoạn văn nói về cô giáo.

                               Minh họa bài làm của học sinh giỏi

           + Bài làm thứ nhất:

                  Năm lớp Một em được học cô giáo Mai. Cô giáo Mai rất hiền. Cô thường đến tận từng bàn giúp học sinh tập viết. Cô yêu thương và quan tâm đến chúng em từng li từng tí. Em rất yêu mến cô giáo Mai.

    ( Minh Lam)

           + Bài làm thứ hai:

               Năm lớp Một em được học cô giáo Mai. Cô giáo Mai rất hiền. Cô thường đến tận từng bàn giúp học sinh tập viết. Em nhớ nhất một lần em bị ốm, cô Mai đến thăm em và tặng em một chú chó bông thật xinh. Em rất yêu mến cô giáo Mai. ( Minh Anh)

              2. Đối với loại bài nói về một người bạn của em cũng vậy.Tôi cho các em lựa chọn và sắp xếp các câu sau để tạo thành đoạn văn:

               a. Em có một người bạn rất thân tên là Quốc Khánh.

               b. Những lúc rảnh, em thường đến nhà bạn bè để cùng nhau học chung.

                   c. Bạn ấy ở xã Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn , thành phố Đà Nẵng.

                  d. Ngũ hành Sơn là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng.

                   e. Ngoài ra, Khánh còn thích thổi sáo và chơi với cún con.

                   g. Bạn Quốc Khánh thích học các môn Tiếng Việt, Tự nhiên và xã hội.

                   h. Bạn ấy đang học lớp 2/3 Trường Tiểu học  Phan Thanh.

                  Với yêu cầu trên, học sinh cũng sắp xếp được đoạn văn kể về người bạn thân của mình, các câu có liên kết với nhau chứ không rời rạc như cách làm ở bài tập 2 trang 12 sách Tiếng Việt lớp 2 tập 1.

                                   Minh họa bài làm:

             Em có một người bạn rất thân tên là Quốc Khánh. Bạn ấy ở xã Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Bạn ấy đang học lớp 2/3 Trường Tiểu học  Phan Thanh. Bạn Quốc Khánh thích học các môn Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội. Ngoài ra, Khánh còn thích thổi sáo và chơi với cún con.

     

              Với cách làm này, các em đã biết sắp xếp các câu thành đoạn có sự liên kết nội dung và ý nghĩa. Đồng thời phát huy tính chủ động, tích cực của học sinh trong giờ Tập làm văn giúp các em tự tin, sáng tạo và ham thích môn học này.

     I      II. KẾT QUẢ:

                   Trên đây là những biện pháp mà tôi đã áp dụng trong thời gian qua. Hiện nay chất lượng phân môn tập làm văn ở lớp tôi có nhiều tiến bộ đáng kể. Các em biết sử dụng đúng các dấu câu và cấu trúc câu, câu văn bước đầu đã có hình ảnh, liên kết câu trong đoạn trở nên chặc chẽ hơn.. Đối với những em yếu, trung bình thì đoạn văn đã viết đúng trọng tâm, còn đối với em khá giỏi  thì bài làm của các em phong phú về ý, sâu sắc về nội dung và chặt chẽ hơn trong lập luận.

             

                  Thực hiện những biện pháp kể trên, kết quả cụ thể phân môn Tập làm văn của lớp 2/4 như sau:

     

              

    Tháng

    GIỎI

     KHÁ

     

    TRUNG

    BÌNH

      YẾU

     

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

       9

    2

    6,3

    10

    31,2

    13

    40,6

    7

    21,9

       11

    8

    25,0

    15

    46,9

    7

    21,9

    2

    6,2

       1

    12

    37,5

    15

    46,9

    4

    12,5

    1

    3,1

       2

    15

    46,9

    14

    43,7

    3

    9,4

     

     

     

     

    IV. BÀI HỌC KINH NGHIỆM:

     

    Để các em làm tốt các bài tập làm văn ta phải chú ý đến các vấn đề sau:

      - Rèn luyện cho học sinh tìm hiểu kĩ đề bài khi làm văn là rất cần thiết, nó quyết định sự thành công hay thất bại khi viết một đoạn văn.

       - Ở mọi lúc, mọi nơi phải rèn cho các em nói, viết thành câu và sử dụng dấu câu hợp lí.

      - Giáo viên làm giàu vốn từ ngữ cho các em thông qua việc ghi chép các từ ngữ gợi tả, gợi cảm vào sổ tay văn học.

    - Giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi, bài tập phù hợp, dễ hiểu với các đối tượng học sinh .…….

    - Giáo viên vận dụng linh hoạt các hình thức dạy học: cá nhân, nhóm, trò chơi… tạo không khí học tập sôi nổi, hứng thú.

    - Động viên kịp thời trước mọi sự tiến bộ của học sinh.

           Để thực hiện các biện pháp trên vào giảng dạy thì không khó nhưng đòi hỏi người thực hiện phải kiên trì, bền bỉ và đầy trách nhiệm. Đó cũng là điểm cơ bản của sự thành công khi vận dụng.

             Tóm lại là một giáo viên đứnglớp, muốn dạy tốt và nâng cao chất lượng bài làm Tập làm văn đòi hỏi người giáo viên phải chịu khó học hỏi, tham khảo rút ra kinh nghiệm giúp học sinh lĩnh hội kiến thức một cách tích cực có hiệu quả.

             Trên đây là những biện pháp tôi đã vận dụng và đạt hiệu quả trong quá trình giảng dạy. Đây cũng là một kinh nghiệm nhỏ trong phương pháp giảng dạy, có thể không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi xin chân thành biết ơn sự góp ý giúp đỡ của các cấp lãnh đạo và bạn bè đồng nghiệp.

                                                                   Đà Nẵng, ngày  5 tháng 1 năm 2009

                                                                        Người viết

     

     

     

                                                                       Trương Thị Kim Liên


    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Thị Thùy Phương @ 14:48 18/12/2013
    Số lượt xem: 507
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến