Thời gian

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Liên hệ

    Click [vào đây] để gửi e-mail cho tôi.

    Các website liên kết

    "Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người" (Hồ Chí Minh)

    Chào mừng quý vị đến với website của Trần Thị Thùy Phương - Phan Thị Tuyết Ánh - Trần Thị Minh Hà

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Sáng kiến kinh nghiệm >

    “MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT TIẾT TẬP LÀM VĂN TRẢ BÀI LỚP 4,5”

     

    I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:

    A/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

         Ở bậc Tiểu học, môn Tiếng Việt là môn học chủ đạo. Trường Tiểu học là nơi đầu tiên trẻ em được học tập Tiếng việt, chữ Việt với phương pháp nhà trường, phương pháp học tập tiếng mẹ đẻ thật sự khoa học.

         Học sinh Tiểu học chỉ có thể học tập được các môn học khác khi có kiến thức tiếng Việt bởi đối với người Việt, tiếng Việt là phương tiện giao tiếp, là công cụ trao đổi thông tin và chiếm lĩnh tri thức. Trong môn Tiếng Việt có nhiều phân môn, mỗi phân môn chứa đựng một bộ phận kiến thức nhất định, chúng bổ trợ cho nhau để người học học tốt Tiếng Việt. Bắt đầu khởi động bằng Học vần, tiếp theo là Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu,… cuối cùng là Tập làm văn. Làm văn, viết văn và hành văn là cái đích cuối cùng cao nhất của việc học tập Tiếng Việt ở Tiểu học. Đối với học sinh tiểu học, biết nói cho đúng, cho đủ, cho rõ nghĩa đã là khó; để nói hay, nói có cảm xúc và cảm nhận được cái đẹp trong cuộc sống để viết lại thanh những bài văn thì lại khó nhiều. Cái khó ấy lại chính là cái đích mà phân môn Tập làm văn đòi hỏi người đọc cần đạt tới.

         Kiến thức Tập làm văn ở Tiểu học tập trung nhiều trong chương trình Tiếng Việt lớp 4, 5 với các kiểu bài như: trao đổi ý kiến, giới thiệu hoạt động, tóm tắt tin tức, kể chuyện, miêu tả,… Trong đó, khó nhất đối với học sinh là văn miêu tả. Điều này thể hiện ở chỗ, những bài làm văn miêu tả của học sinh còn rất nhiều hạn chế. Trong thực tế, ta thấy, những bài văn miêu tả của học sinh tiểu học thường ngắn ngủi, cụt lủn, kém hình ảnh, diễn đạt yếu; các bài viết thường rơi vào tình trạng liệt kê, kể lể, khô cứng. Sau đây là một vài ví dụ về đoạn văn miêu tả của các em:

    (1)   Ngôi nhà em có ba gian. Gian phòng khách, gian phòng ăn, gian phòng ngủ.

    (2)   Cái cặp của em màu vàng. Ở bên ngoài có hình siêu nhân. Nó có ba ngăn. Một ngăn em để bút, một ngăn em để bảng và một ngăn để sách vở.

    (3) Con chó nhà em cao lớn. Cái đầu như cái yên xe dạp. Đôi mắt màu nâu. Cái mũi hay khịt khịt. Cái lưỡi đỏ  hay thè ra.

         Miêu tả như vậy, chỉ cần vài câu văn là tả xong một con vật, đồ vật. Như vậy, bài văn có thể viết được mấy câu thì hết?

         Trong một số bài văn của học sinh ta sẽ bắt gặp khá nhiều lỗi:

         (1) Lỗi chính tả. (2) Lỗi dấu câu. (3) Lỗi diễn đạt. (4) Lỗi chủ đề.

         Cụ thể như sau:

         - Câu không đủ thành phần: Khi những hạt mưa đầu xuân rơi nhè nhẹ trên lá non.

         - Câu thừa thành phần: Lặp lại thành phần một cách không cần thiết: Ngôi nhà ấy là tổ ấm là ngôi nhà yêu dấu của em em yêu vô cùn.g

         Câu có nội dung trùng lặp với câu khác trong văn bản: Cánh đồng lúa như tấm thảm xanh vô tận. Như tấm thảm trải rộng.

    - Câu không phân định được thành phần: Cái đồng hồ  của em.

         - Câu sai nghĩa: Căn phòng khách nhà em rộng 200 mét vuông.

         - Câu không rõ nghĩa: Đằng kia, các cụ già đang tập thể dục làm cho các bạn nhỏ chạy quanh không biết mệt mỏi.

         - Câu không có sự tương hợp về nghĩa giữa các thành phần câu, giữa các vế câu: Bởi yêu thương cháu mà ông em gầy gò.

         - Lỗi không dùng dấu câu ( trong từng câu hoặc trong cả bài viết của học sinh không có dấu chấm, dấu phẩy):

           Nắng lên làm bầu trời trong xanh lũ chim non vui mừng nhảy nhót cảnh trường em vào buổi sáng đẹp biết bao!

         - Lỗi sử dụng dấu câu sai: Tuy khu vườn bé nhỏ. Nhưng có lũ chim sẽ bay về.

         - Lỗi dùng từ không phù hợp: Món quà nhỏ nhen nhưng em rất quý.

         - Lỗi lạc chủ đề: Tả cảnh biển vào lúc bình minh:

          Dòng sông Hàn quê tôi bốn mùa chảy êm ả. Khi mặt trời lên, dòng sông tắm trong màu nắng. Nước sông lấp lánh ánh sáng thật đẹp. Bãi cát trắng mênh mông như được thoa lớp phấn hồng mịn màng.

         - Lỗi do các câu trong văn bản mâu thuẫn nhau về nghĩa: Chiếc đồng hồ ấy là vật kỉ niệm của ông tặng cho em. Em muốn gởi tặng mẹ để tỏ lòng biết ơn.

        Như vậy, ta thấy, khi viết bài tập làm văn, phần đông học sinh tiểu học thường mắc phải rất nhiều lỗi. Đọc bài văn miêu tả của các em, ta còn thấy sự khô khan, nghèo cảm xúc, bài văn như một bảng liệt kê các chi tiết của đối tượng miêu tả, lủng củng, lộn xộn, không lột tả được đối tượng miêu tả.

          Bản thân là giáo viên lớp 5, lại được phụ trách về phân môn Tập làm văn, Chúng tôi thường xuyên tìm hiểu nguyên nhân nào các em mắc các lỗi sai đó. Chúng tôi xin đề ra  một số nguyên nhân sau;

         -    Các em chưa hiểu rõ đặc điểm cơ bản của văn miêu tả; chưa phân biệt được sự khác biệt giữa văn miêu tả với các kiểu bài văn khác.

         - Khả năng quan sát và lựa chọn hình ảnh để quan sát và miêu tả chưa tinh tế.

         - Vốn từ miêu tả còn nghèo nàn, hạn hẹp.

         - Kĩ năng lựa chọn từ ngữ, dùng từ đặt câu, viết đoạn văn; kĩ năng diễn đạt,… còn rất hạn chế; chưa biết cách sắp xếp ý khi viết bài, bố cục thiếu rõ ràng và khoa học.

         - Không có thói quen sử dụng các biện pháp tu từ, biện pháp nghệ thuật trong viết văn; khả năng giao cảm với đối tượng miêu tả còn hạn chế, cảm xúc tình cảm không tự nhiên, còn gượng ép và khô cứng.

         - Trong tiết trả bài, Giáo viên chưa quan tâm đúng mức, học sinh chưa được sửa lỗi và tự sửa lỗi kĩ càng, đầy đủ…..

        Chính vì những lí do trên,  chúng tôi đã chọn đề tài :

    Một số biện pháp giúp học sinh học tốt dạy tốt tiết  tập làm văn trả bài lớp 4, 5

    B. Nội dung:

              I. Phần lí luận:

                            Các kết quả thực tế cho thấy số học sinh được xem là có năng lực nhận thức, tư duy, vốn sống... nổi trội hơn các em khác chiếm từ 5-10% tổng số học sinh. Các tài năng xuất hiện từ rất sớm. Vì vậy trên thế giới, người ta luôn quan tâm đến việc phát hiện và bồi dưỡng nhân tài ngay từ những năm tháng trẻ còn nhỏ tuổi. Ở nước ta, từ nhiều năm nay vấn đề này cũng được quan tâm.

            Bản thân chúng tôi thiết nghĩ muốn nói gì thì nói chất lượng học sinh  vẫn là hàng đầu, là quan trọng nhất trong nền giáo dục. Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà xã hội đang đòi hỏi. Chính vì vậy mục tiêu mới của giáo dục tiểu học đã nhấn mạnh đến yêu cầu của  giáo dục tiểu học,  là phải góp phần đào tạo những người lao động linh hoạt, năng động, sáng tạo. Yêu cầu này đòi hỏi phải đổi mới toàn diện và đồng bộ giáo dục tiểu học trong đó cần ưu tiên đổi mới phương pháp giáo dục dạy học.

    Để thực hiện mục tiêu giáo dục mới và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học. Bộ giáo dục đã  có một số văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học ở Tiểu học trong đó phân môn Tiếng Việt với phương châm "Coi học sinh là nhân vật trung tâm", biết trân trọng sự sáng tạo dù nhỏ của học sinh, biết sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để hướng dẫn học sinh phân tích tìm hiểu bài tập.

           Công tác chỉ đạo của nhà trường cũng như mỗi cán bộ giáo viên đã nhận thức sâu sắc về các cuộc vận động lớn của ngành như “ Đổi mới công tác quản lí và nâng cao chất lượng giáo dục”, phong tào thi đua: “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”...  thầy chỉ là người tổ chức hướng dẫn. Vì vậy đứng trước tình hình và nhiệm vụ mà xó hội giao phó, bản thân chúng tôi là người giáo viên tiểu học, chúng tôi luôn học hỏi kinh nghiệm và chịu khó đào sâu suy nghĩ để tìm ra phương pháp giảng dạy tốt nhất giúp trò tiếp thu kiến thức dễ dàng nhất.

              II. Thực trạng vấn đề:

    Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi gặp phải những thuận lợi, khó khăn sau:

    a. Thuận lợi:

    - Trước hết, đó là sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo nhà trường, đã tạo mọi điều kiện có thể để công việc bồi dưỡng giảng dạy có chất lượng như thời gian, tài liệu...

    - Bản thân hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trực tiếp tham gia kiểm tra, đánh giá, chỉ đạo chương trình.

    - Nhà trường có những biện pháp động viên, khuyến khích học sinh và giáo viên, tạo động lực thúc đẩy công việc có hiệu quả tốt.

    - Học sinh chăm ngoan, hiếu học.

    b. Khó khăn:

        Nhìn chung nhiều năm nay, chúng ta đã chú ý quan tâm nhưng điều kiện thực tế còn nhiều hạn chế.

         + Về phía phụ huynh học sinh: Một số phụ huynh rất ít quan tâm đến việc học tập của con cái do điều kiện kinh tế của nhân dân ở địa phương còn hết  nghèo, khó khăn. Rất nhiều gia đình phụ huynh phải đi làm ăn xa, việc học tập ở nhà, mua sắm tài liệu tham khảo là rất khó khăn. Do vậy hạn chế không nhỏ đến chất lượng học tập của các em.

        + Về phía giáo viên: Một số bộ phận giáo viên xem nhẹ tiết trả bài. Chưa khai thác hết khả năng kiểm tra đánh giá của học sinh khi tham gia học tiết trả bài.

    Từ những năm thay sách đến nay, việc đánh giá xếp loại danh hiệu học sinh tiên tiến, giỏi bậc Tiểu học, yêu cầu phải có sự phối hợp tương quan nhất định của hai môn: Toán, Tiếng Việt nhằm đánh giá toàn diện hơn. Vì vậy khi có ý định  viết sáng kiến này chúng tôi đã phỏng vấn đồng nghiệp của mình, phỏng vấn học sinh đồng thời khảo sát và phân loại học sinh nhằm mục đích nắm được đối tượng của mình và đề ra được biện pháp cụ thể nhất.

    Trước tiên chúng tôi trao đổi với đồng nghiệp xem họ dạy tiết Tập làm văn trả bài như thế nào? Khi dạy tiết này có thuận lợi và khó khăn gì?

    Sau đó chúng tôi đã phỏng vấn học sinh hai lớp 5/1, 5/6 kết quả như sau.

    + Số học sinh rất thích học môn tiếng việt chiếm 3% ( tập trung vào những em khá giỏi và có năng khiếu).

    + Số học sinh thích học môn  Tiếng Việt chiếm 28%.

    + Số học sinh nắm phương pháp học môn Tiếng Việt còn hời hợt không thuộc, hoặc thuộc rất ít thơ văn, chất lượng bài viết chưa cao chiếm 69% ( những em này thể hiện sự học thiên lệch về môn toán và học trung bình, yếu kém ở các môn ).

    Chúng tôi xem vở tập làm văn của sáu lớp  năm: 5/1, 5/2, 5/3, 5/4, 5/5, 5/6 thì thấy chất lượng bài viết của các em chưa đạt kết quả như mong muốn, số lượng bài đạt điểm khá giỏi chưa nhiều, đặc biệt nhiều em diễn đạt còn lủng củng, còn sai lỗi chính tả đặc biệt là lỗi chính tả thông thường.

    Chúng tôi dự giờ của hai lớp 5/2, 5/4 thì thấy giáo viên chưa thực sự đầu tư thời gian  nhiều cho tiết dạy, thầy dạy còn chung chung, nặng về thuyết trình, chưa gây được không khí sôi nổi cho tiết học.

    Đồng thời chúng tôi tiến hành khảo sát chất lượng của hai lớp: 5/1 và 5/6.

    + Lớp 5/1 là lớp thực nghiệm           

    + Lớp 5/6 là lớp đối chứng

    Chúng tôi cho cả hai lớp cùng làm chung một đề văn.

    Đề bài: Em hãy tả ngôi trường thân yêu đã gắn bó với em trong nhiều năm qua. Kết quả: 

    Lớp

    Sĩ số

    Giỏi

    Khá

    Trung bình

    Yếu

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    S.L

    %

    5/1

    38

    4

    10.5

    10

    26.3

    24

    63.2

     

     

    5/6

    39

    6

    15.2

    10

    25.6

    13

    33.2

     

     

                             

     

               Chất lượng khảo sát đầu năm của lớp 2 là tương đương nhau.

    Đặc biệt qua bài viết của các em chúng tôi còn nhận thấy:

    *) Về nội dung bài Tập làm văn

    - 10- 15% học sinh viết văn có bố cục rõ ràng, bài viết cô đọng xúc tích.

    - 50% học sinh thực hiện được yêu cầu của đề nhưng diễn đạt ý còn chưa rõ ràng, lôgic.

    - 10% học sinh còn đôi chỗ dùng từ, đặt câu, liên kết câu, đoạn  chưa đạt. Văn viết gò bó thiếu tự nhiên, ít sáng tạo.

    - 25% học sinh thì sao chép nguyên bản bài của bạn hoặc văn mẫu. Thậm chí có em bài viết còn khô khan, rời rạc, lủng củng, vay mượn.

    *) Về kĩ năng:

    - Trong bài văn của các em gần như cả bài nhiều em không có một dấu chấm câu.

    - Bài viết sai lỗi chính tả, đặc biệt là lỗi chính tả thông thường, bên cạnh những lỗi chính tả vốn có của địa phương 50%.

    - Diễn đạt vụng, luẩn quẩn, tối nghĩa do dùng từ viết sai, sai về nội dung do dùng từ tối nghĩa 25%.

    Sở dĩ chất lượng bài viết của các em chưa cao do những nguyên nhân sau:

    + Học sinh đọc sách ít, vốn kiến thức ít.

    + Không nắm chắc yêu cầu của đề bài ra.

    + Chưa thấy được hết cái đích cần đạt.

    + Chưa biết cách liên kết câu, ý, đoạn, bài.

    + Chưa ham học nên chưa chú trọng rèn luyện kỹ năng.

    + Do phương pháp dạy của giáo viên khiến học sinh thụ động tiếp thu, giáo viên chưa động viên được học sinh.

    +Do các tiết học (phân tích dàn bài, lập dàn ý, chia đoạn, viết đoạn) chưa ăn khớp với nhau, chưa có tính hệ thống chặt chẽ.

    + Việc chấm bài của giáo viên cũng chưa chỉ ra được lỗi của học sinh một cách khoa học, nhất quán.

    + Việc kiểm tra học sinh sửa lỗi trong vở Tập làm văn trên lớp cũng như ở nhà của giáo viên còn  hạn chế.

    + Ngay việc tự học, tự nâng cao kiến thức cũng như xây dựng một thiết kế tiết dạy trả bài của một số giáo viên còn chưa đúng mức.

    Để khắc phục những tồn tại trên, giúp các em thấy được đúng sai, vấn đề chấm, trả bài Tập làm văn cần phải được tiến hành ngay, nghiêm túc từ ban đầu, từ bài đầu tiên. Tức là giờ trả bài thầy phải nêu ra được cái đúng, cái sai cụ thể của các em. Đặc biệt là phải dứt điểm từng loại lỗi.

    Tóm lại việc khảo sát chất lượng đầu năm để phân loại học sinh là biện pháp cần làm ngay để từ đó giáo viên có biện pháp cụ thể, chi tiết, sát đối tượng hơn nữa trong giảng dạy nói chung, trong mục đích tiến hành giờ trả bài Tập làm văn nói riêng.

              III. Biện pháp:

              Để khắc phục tình trạng trên, giúp cho giáo viên và học sinh lớp 4 và 5 dạy và học  tốt các Tiết làm văn trả bài, giáo viên cần chú ý một số biện pháp  sau đây:

         Biện pháp 1: Chấm bài nghiêm túc

    Tuy chấm bài không nằm trong quá trình lên lớp 40 phút trả bài, nhưng nó lại là yếu tố quan trọng làm cơ sở cho giờ trả bài. Giờ trả bài có thành công hay không ? Học sinh có thấy được đúng sai trong bài làm của em đó hay không ? Đều được bắt đầu bằng việc chấm. Đó chính là phần chuẩn bị của giáo viên.

    Song song với việc chấm bài kỹ là sổ chấm bài. Sổ chấm bài có tác dụng thống kê các loại lỗi để tìm ra lỗi phổ biến, ghi chép những sai, đúng cụ thể của từng học sinh làm tư liệu để phục vụ cho việc nhận xét và hướng dẫn chữa lỗi.. Nhưng trước hết muốn ghi chép đúng thì giáo viên phải chấm kỹ, bám sát yêu cầu mà chuẩn kiến thức và kĩ năng đã đề ra, đưa ra một biểu điểm để đảm bảo tính khoa học , khách quan, vô tư. Từ đó thấy được ưu và nhược điểm của bài viết. Đồng thời sổ này giúp giáo viên so sánh đối chiếu những bài sau so với những bài trước xem sự dứt điểm của từng loại lỗi đã làm được chưa ? Làm đến đâu ? Sự tiến bộ của các em đạt đến mức độ nào? Số được trình bày theo bảng sau:

    Loại sai

    Tên học sinh

    Dẫn chứng

    Hướng sửa

    1- Bố cục

    2.Không đúng yêu cầu của đề.

    3- Chính tả, từ

    4- Diễn đạt

    5- Câu

     

     

     

    Cuối bảng giáo viên ghi rõ cần dứt  điểm loại lỗi nào trong bài viết, kế tiếp việc này được nêu ở giờ trả bài phần củng cố, học sinh sẽ thấy được để ở  giờ sau phấn  đấu đạt kết quả tốt hơn. Như vậy việc làm từng bước ấy rõ ràng không bị miên man kéo dài.

         Biện pháp 2: Bản thân mỗi giáo viên phải có những kiến thức cơ bản về các kiểu văn miêu tả , về từ vựng, cấu tạo từ, biết xây dựng tập hợp  dữ liệu về từ ngữ phục vụ cho tiết tập làm văn trả bài.

              2.1 Giúp học sinh hiểu rõ đặc điểm cơ bản của văn miêu tả:

         - Khái niệm: Miêu tả là một thể loại văn bản mà trong đó người viết dùng ngôn ngữ có tính chất nghệ thuật của mình để tái hiện, sao chụp lại hình  ảnh chân dung của đối tượng miêu tả với những đặc điểm nổi bật cả về hình thức bên ngoài lẫn những phẩm chất bên trong nhằm giúp người tiếp nhận có những hiểu biết và rung cảm cảm nhận về đối tượng đó như được trực tiếp tiếp xúc với đối tượng thông qua các giác quan của mình.

         - Đặc điểm: Bài văn miêu tả được xây dựng trên cơ sở những hình ảnh, những ấn tượng về đối tượng mà người viết thu lượm, cảm nhận được thông qua các giác quan trực tiếp của mình. Bài văn miêu tả là thể loại văn bản mang tính chất nghệ thuật cao, mang tính sáng tạo, tính cá thể của người viết. Ngôn ngữ trong văn miêu tả là thứ ngôn ngữ nghệ thuật giàu sức gợi tả, gợi cảm và là ngôn ngữ của những biện pháp tu từ. Tả là mô phỏng, là tô vẽ lại, là so sánh ví von, nhân hóa bằng hình ảnh…chứ không phải là kể lể.

         Văn miêu tả mang tính chất thông báo thẩm mĩ, dù miêu tả bất kì đối tượng nào, dù có bám sát thực tế đến đâu thì văn miêu tả cũng không bao giờ là sự sao chép, chụp ảnh máy móc những sự vật hiện tượng mà là kết quả của sự nhận xét, tưởng tượng đánh giá hết sức phong phú. Đó là sự miêu tả thể hiện được cái mới, cái riêng biệt của đối tượng thông qua cảm nhận của mỗi người.

              2.2. Hướng dẫn học sinh cách quan sát đối tượng miêu tả; Cách lựa chọn hình ảnh, nội dung miêu tả

                       2.2.1 Quan sát đối tượng miêu tả cần chú ý:

              - Quan sát tổng thể đối tượng, chú ý ở cả trạng thái động và tĩnh, quan sát bằng tất cả các giác quan: thính giác, thị giác, xúc giác, cảm giác,…

         - Lựa chọn điểm đặc trưng, đặc biệt, tiêu biểu của đối tượng để quan sát thật kĩ.

         - Quan sát và so sánh điểm giống và khác nhau với các đối tượng khác có ở xung quanh bằng sự liên tưởng hay quan sát trước đó.

         - Quan sát hình ảnh, hoạt động và những tác động của đối tượng đến các sự vật xung quanh.

         - Ghi chép đầy đủ, cẩn thận khi quan sát.

                       2.2.2 Lựa chọn hình ảnh miêu tả và nội dung miêu tả:

         - Căn cứ vào hình ảnh đã lựa chọn khi quan sát.

         - Căn cứ vào nội dung đã ghi chép.

         - Chọn lọc những hình ảnh, chi tiết, hoạt động đặc sắc, đặc trưng riêng, đẹp và khác biệt của đối tượng để miêu tả chi tiết.

         - Lựa chọn hình ảnh, hoạt động khác của đối tượng để tả khái quát, bổ trợ tạo nên hình ảnh tổng thể về đối tượng; có thể lồng ghép các hình ảnh, sự việc gắn bó mật thiết với đối tượng.

     Một số tập hợp dữ liệu về màu sắc, âm thanh,…dùng để làm bài văn miêu tả:

    Ví dụ 1 :

    THAM KHẢO NHỮNG ĐOẠN VĂN HAY VỀ MÀU SẮC

    TỪ

    ĐOẠN VĂN

    XANH

    Cái thú vị của bài Thu điếu ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh song, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu xanh đâm ngang của chiếc lá thu rơi

    (Xuân Diệu)

     

    Nhìn xuống cánh đồng có đủ các màu: xanh pha vàng của ruộng mía, xanh rất muột của lúa chiêm đương thời con gái, xanh đậm của những rặng tre, đây đó có một vài cây phi lao xanh biếc và rất nhiều màu xanh khác nữa…

    (Hoài Thanh – Thanh Tịnh)

    VÀNG

    Màu lúa chín dưới đồng vàng xuộm lại. Nắng nhạt ngả màu  vàng hoe. Trong vườn, lắc lư những chùm quả xoan vàng lịm không trông thấy cuống, như những chuỗi tràng hạt bồ đề treo lơ lửng. Từng chiếc lá mít vàng ối. Tàu đu đủ, chiếc lá sắn héo lại mở năm cánh vàng tươi. Buồng chuối đốm quả chín vàng. Những tàu lá chuối vàng ối xõa xuống như những đuôi áo, vạt áo. Nắng vườn chuối đương có gió lẫn với lá vàng như những vạt áo nắng, vẫy vẫy. Bụi mía vàng xọng, đốt ngầu phấn trắng. Dưới sân, rơm và thóc vàng giòn. Quanh đó, con gà, con chó cũng vàng mượt. Mái nhà phủ một màu rơm vàng mới, lác đác cây lựu có mấy chiếc lá đỏ. Qua khe giậu, ló ra mấy quả ớt đỏ chói. Tất cả đượm một màu vàng trù phú, đầm ấm lạ lùng…

    CÁC MÀU

    Em yêu màu đỏ

    Như máu con tim

    Lá cờ Tổ quốc

    Khăn quàng đội viên

    Em yêu màu xanh

    Đồng bằng rừng núi

    Biển đầy cá tôm

    Bầu trời cao vợi

    Em yêu màu vàng

    Lúa đồng chin rộ

    Hoa cúc mùa thu

    Nắng trời rực rỡ

    Em yêu màu nâu

    Áo mẹ sờn bạc

    Đất đai cần cù

    Gỗ rừng bát ngát

    Em yêu màu trắng

    Trang giấy tuổi thơ

    Đóa hoa hồng bạch

    Mái tóc của bà

    Em yêu màu đen

    Hòn than óng ánh

    Đôi mắt bé ngoan

    Màn đêm yên tĩnh

    Em yêu màu tím

    Hoa cà, hoa sim

    Chiếc khăn của chị

    Nét mực của em

    Trăm nghìn cảnh đẹp

    Dành cho em ngoan

    Em yêu tất cả

    Sắc màu Vệt Nam

    (Phạm Đình Ân)

     

    Ví dụ 2: Sử dụng âm thanh trong bài văn tả cảnh:

     

    ÂM THANH

    ĐỒ VẬT

    Âm thanh lớn

    Ồn ào – Ình ịch - Ầm ầm – Chát chúa – Lịch bịch – Bình bịch – Thình thịch – Cồm cộp – Ken két - Ầm ĩ – Tùng tùng – Reng reng

    Âm thanh nhỏ

    Cót két – Lắc cắc – Cộc cạch – Lạch cạch – Lóc cóc – Lẹt xẹt – Cút kít – Kẽo kẹt – Rè rè – Sột soạt – Tích tắc – Tách tách – Lanh canh…

    HIỆN TƯỢNG

    Gió

    Vi vu – Ù ù – Vù vù – Rì rào – Ào ào

    Mưa

    Tí tách – Lách tách – Đồm độp – Sầm sập

    Nước

    Róc rách - Ầm ầm

    NGƯỜI

    Nói

    Lí nhí – Lè nhè – Ngập ngừng – Nhỏ nhẹ - Rổn rảng – Thì thầm – Thì thào – Xì xào – Lẩm bẩm – Bập bẹ - Ấp úng – Huyên thuyên – Huênh hoang – Lải nhải – Lảm nhảm – Càu nhàu – Cằn nhằn – Tía lia – Hằn học – Cộc lốc…

    Cười

    Ha ha – Ha hả - Hi hi – Hí hí – Hi hí – Hề hề - Khúc khích – Khanh khách – Sằng sặc – Tủm tỉm – Toe toét.

    Khóc

    Oa oa – Hu hu – Rưng rức – Sụt sùi – Mếu máo – Sướt mướt – Nức nở - Thút thít – Nghẹn ngào,…

     

     

    THAM KHẢO NHỮNG ĐOẠN VĂN HAY VỀ ÂM THANH

    ĐỐI TƯỢNG

    ĐOẠN VĂN

    ĐỒ VẬT

    Từ cái căn gác nhỏ của mình, Hải có thể nghe thấy tất cả các âm thanh náo nhiệt, ồn ã của thành phố thủ đô. Tiếng chuông xe đạp lanh canh. Tiếng kéo lách cách bận rộn của những người bán thịt bò khô. Tiếng thùng nước va vào nhau loảng xoảng ở một cái vòi nước công cộng. Tiếng ve kêu rền rĩ trong những đám lá cây trên đại lộ. Tiếng còi ô tô xin đường gay gắt. Tiếng xả hơi của một cái đầu máy hơi nước. Tiếng còi tàu hỏa thét lên và tiếng bánh xe đập trên đường ray ầm ầm như sắp lao vào thành phố.

    (Tô Ngọc Hiến)

    CON VẬT

    Tiếng lợn eng éc, tiếng gà chim chip, tiếng vịt cạc cạc, tiếng người nói léo xéo. Thỉnh thoảng lại điểm những tiếng ẳng ẳng của con chó bị lôi sau sợi xích sắt, mặt buồn rầu, sợ sệt…

     

    Đề bài: Tả cảnh giờ ra chơi.

    “ Tiếng ầm ĩ vang lên các phía. Tiếng chân chạy huỳnh huỵch của các bạn chơi ví bắt, tiếng xành  xạch của sợi dây quay, tiếng lách cách của các viên bi các em nhỏ chơi …Tất cả làm cho không khí giờ ra chơi thêm rộn ràng.

     

    Ví dụ 3: Tìm hiểu chung về văn miêu tả:

     

    ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂY CỐI

    Có sự phát sinh, phát triển

    Có mối liên hệ với thiên nhiên

    Có ảnh hưởng bởi

    Mọc – Lớn lên – Thay lá – Đâm chồi – Ra hoa – Kết trái – Già cỗi…

    a)     Thời gian:

    Sáng – Trưa – Chiều – Tối …

    Nắng – Mưa – Nóng – Lạnh…

    Xuân – Hạ - Thu – Đông…

    b)    Không gian:

    Đất đai – Đồng bằng – Cao nguyên…

    a)     Con người:

    Tưới cây – Bón phân – Tỉa lá – Trừ sâu…

    b)    Loài vật:

    Ong, bướm ( gieo phấn…)

    Chim choc (làm tổ…)

     

     

    CÂY CỐI

    PHÁT TRIỂN

    ẢNH HƯỞNG BỞI THIÊN  NHIÊN

    ẢNH HƯỞNG BỞI CON NGƯỜI, LOÀI VẬT

    Thời gian

    Không gian

    Con người

    Loài vật

    Mọc – Lớn lên – Thay lá – Đâm chồi – Ra hoa – Kết trái

    - Sáng, trưa, chiều, tối

    - Nắng, mưa, nóng, lạnh

    - Xuân, hạ, thu, đông

    - Đất đai

    - Đồng bằng

    - Cao nguyên

    - Tưới cây, bón phân

    - Tỉa lá, trừ sâu

    - Ong, bướm (gieo phấn)

    - Chim chóc (làm tổ)

    CẤU TẠO BÀI VĂN MIÊU TẢ CÂY CỐI

     

    Bài văn miêu tả cây cối thường có ba phần:

    -         Mở bài: Tả hoặc giới thiệu bao quát về cây.

    -         Thân bài: Tả từng bộ phận của cây hoặc tả từng thời kì phát triển của cây.

    -         Kết bài: Có thể nêu lợi ích của cây, ấn tượng đặc biệt hoặc tình cảm của người tả với cây.

     

     

    Bãi ngô

    DÀN BÀI

    TRÌNH TỰ THỜI GIAN

    I.MỞ BÀI:

    - Giới thiệu cây cối:…

    - Ở đâu:……………….

    - Lúc nào:……………

    Bãi ngô quê em ngày càng xanh tốt

    II. THÂN BÀI

    - Tả chi tiết từng bộ phận: (Trình tự thời gian: Trước       sau)

    . Mạ non

    . Thân ngô

    . Lá ngô

    . Búp ngô

     

    … Mới dạo nào những cây ngô còn lấm tấm như mạ non. Thế mà chỉ ít lâu sau, ngô đã thành cây rung rung trước gió và ánh nắng. Những lá ngô rộng dài, trổ ra mạnh mẽ, nõn nà.

         Trên ngọn, một thứ búp như kết bằng nhung và phấn vươn lên. Những đàn bướm trắng, bướm vàng bay đến, thoáng đỗ rồi bay đi. Núp trong cuống lá, những búp ngô non nhú lên và lớn dần. Mình có nhiều khía vàng vàng và những sợi tơ hung hung trong làn áo mỏng óng ánh.

    III. KẾT BÀI

    Thu hoạch

    Trời nắng chang chang, tiếng tu hú gần xa ran ran. Hoa ngô xơ xác như cỏ may. Lá ngô quắt lại rủ xuống. Những bắp ngô đã mập và chắc chỉ còn chờ tay người đến để mang về,

    Nguyên Hồng

     

                       2.2.3 Sắp xếp ý, đoạn:

         - Căn cứ vào nội dung đã lựa chọn để sắp xếp từng ý. ( Theo một thứ tự nào đó: từ ngoài vào trong, từ trước ra sau, từ xa đến gần, từ trên xuống dưới…).

         - Sắp xếp các ý theo đoạn với thứ tự đã lựa chọn cho phù hợp.

    DÀN BÀI CHI TIẾT

    VIẾT THEO TRÌNH TỰ NGOÀI→ TRONG

    1. MỞ BÀI:

    Giới thiệu đồ vật.

    (Mở bài gián tiếp)

    “Đẹp quá! Đẹp quá” Em reo lên khi nhìn thấy một chiếc cặp mới tinh, xinh xắn đang treo ở cửa hàng bách hóa. Và ba đã chiều ý mua cho em chiếc cặp này để chuẩn bị cho đầu năm học mới.

    1. THÂN BÀI:
    2. Tả bao quát

    Hình dáng: cắp hình chữ nhật, xinh xắn...

            Kích thước: lớn bằng...Màu sắc: màu đen

         Vật liệu: bằng vải nhựa

    Mới thoạt nhìn bên ngoài cũng đã thấy đẹp! Cặp mang dáng dấp hình chữ nhật nhưng nét thon thon, lớn cỡ hai quyển vở ghép lại. Nếu thử lấy tay của em đo thì bề dài khoảng ba gang, rộng hai gang và dày khoảng nửa gang. Chiếc cặp khoác một bộ áo mùa đen tuyền, bóng láng như bôi mỡ. Bộ áo ấy được làm bằng vải nhựa dày nhưng rất mịn tay. Một đường chỉ trắng chạy đều đặn chung quanh mép cặp càng làm tăng thêm nét sắc sảo cho vật dụng mà em thích.

    2. Tả chi tiết

    a) Tả chi tiết bên ngoài

    Trang trí: hình chú thỏ...Ổ khóa: mạ kền

      Quai cặp: bằng nhựa

     

     

     

     

     

     

    b) Tả chi tiết bên trong

    Vật liệu lót: bên trong được lót bằng lớp vải mỏng êm êm…

       Các ngăn: có hai ngăn: ngăn nhỏ để dùng học tập: hộp bút, thước kẻ…ngăn lớn để dựng sách vở,…

    Nhưng đẹp nhất vẫn là nét trang trí bên ngoài với hình một chú thỏ xinh xinh đang tung tăng cắp sách đến trường nổi trên mặt nhựa láng mướt. Bên cạnh bức hình là hai ổ khóa mạ kền bóng loáng giữ cho nắp cặp khỏi bung ra. Mỗi khi đóng lại, ổ khóa lại vang lên hai tiếng tạch

    …tách nghe thật vui tai. Thú nhất là chiếc quai cặp bằng vải nhựa chắc nịch, cong cong như cầu vồng giúp em dễ dàng xách cặp khi đến trường.

    Tuy nhiên, điều em quan tâm nhất vẫn là bên trong cặp vì em muốn đựng cả thế giới dụng cụ học sinh của mình vào đó. Bên trong chia ra hai ngăn được lót bằng lớp vải mỏng êm êm. Ngăn nhỏ dùng để đựng dụng cụ học tập như bút chì, bút mức, thước kẻ…còn ngăn lớn em dùng để chứa sách vở…Sắp tới sắp lui thế mà vẫn không sao đựng hết được tất cả sách vở của em. Thú thật nếu có đựng hết thì em cúng không sao mang nổi. Vì thế hôm nào đi học cần môn gì thì em chỉ mang đủ sách vở của môn đó mà thôi.

    3. Việc sử dụng đồ vật

    a) Lúc đang sử dụng:

     Nhờ có cặp mà đồ dùng được bảo quản tốt.

     Không quăng vứt…

    b) Lúc không sử dụng: cất vào…,treo trên

    Nhờ có cặp mà khi đi học, những dụng cụ của em, như thước kẻ, bút mức không bị mất mát,…sách vở không bị bẩn thỉu, quăn góc…Những khi mưa gió, cặp giữ cho sách vở, bút mực khỏi bị ướt. Cho nên em không bao giờ quẳng vứt bừa bãi để cặp bị trầy xước. Buổi sáng đến trường, em nhẹ nhàng đặt nó vào hộc bàn. Buổi chiều về nhà, em cẩn thận treo cặp vào đinh móc trên tường.

    III. KẾT BÀI

    Nêu cảm nghĩ

    (Kết bài mở rộng)

       Ngày mai đây, cặp sẽ cùng em tung tăng vui bước đến trường. Niềm vui được gặp lại thầy cô, bạn hữu sau những năm tháng nghỉ hè. Niềm vui được khoe với các bạn chiếc cặp mới tinh, xinh xắn. Và em chợt nghĩ nếu mọi người quan tâm đến các bạn học sinh nghèo hơn nữa thì các bạn ấy cũng sẽ có được niềm vui nho nhỏ này.

     

     

    Thân bài có thể viết theo trình tự ngược lại

    Dàn bài chi tiết

    Víêt thân bài theo trình từ từ trong  - ngoài

    II.THÂN BÀI

    1. Tả bao quát:

     Hình dáng: cặp hình chữ nhật, xinh xắn…

     Kích thước: lớn bằng…Màu sắc: màu đen

     Vật liệu: bằng vải nhựa

    Mới thoát nhìn bên ngoài cũng đã thấy đẹp! Cặp mang dáng dấp hình chữ nhật nhưng nét thon thon, lớn cỡ hai quyển vở ghép lại. Nếu thử lấy tay của em đo thì bề dài khoảng ba gang, rộng hai gang và dày khoảng nửa gang. Chiếc cặp khoác một bộ áo mùa đen tuyền, bóng láng như bôi mỡ. Bộ áo ấy được làm bằng vải nhựa dày nhưng rất mịn tay. Một đường chỉ trắng chạy đều đặn chung quanh mép cặp càng làm tăng thêm nét sắc sảo cho vật dụng mà em thích.

    2. Tả chi tiết

    a) Tả chi tiết bên trong

    Vật liệu lót: bên trong được lót bằng lớp vải mỏng êm êm…

       Các ngăn: có hai ngăn: ngăn nhỏ để dùng học tập: hộp bút, thước kẻ…ngăn lớn để dựng sách vở,…

     

     

     

     

     

     

     

     

    b) Tả chi tiết bên ngoài

    Trang trí: hình chú thỏ...Ổ khóa: mạ kền

      Quai cặp: bằng nhựa

     

    Điều em quan tâm nhất vẫn là bên trong cặp vì em muốn đựng cả thế giới dụng cụ học sinh của mình vào đó. Bên trong chia ra hai ngăn được lót bằng lớp vải mỏng êm êm. Ngăn nhỏ dùng để đựng dụng cụ học tập như bút chì, bút mức, thước kẻ…còn ngăn lớn em dùng để chứa sách vở…Sắp tới sắp lui thế mà vẫn không sao đựng hết được tất cả sách vở của em. Thú thật nếu có đựng hết thì em cúng không sao mang nổi. Vì thế hôm nào đi học cần môn gì thì em chỉ mang đủ sách vở của môn đó mà thôi.

    Nhưng đẹp nhất vẫn là nét trang trí bên ngoài với hình một chú thỏ xinh xinh đang tung tăng cắp sách đến trường nổi trên mặt nhựa láng mướt. Bên cạnh bức hình là hai ổ khóa mạ kền bóng loáng giữ cho nắp cặp khỏi bung ra. Mỗi khi đóng lại, ổ khóa lại vang lên hai tiếng tạch

    …tách nghe thật vui tai. Thú nhất là

    chiếc quai cặp bằng vải nhựa chắc nịch, cong cong như cầu vồng giúp em dễ dàng xách cặp khi đến trường.

    3. Việc sử dụng đồ vật

    a) Lúc đang sử dụng:

     Nhờ có cặp mà đồ dùng được bảo quản tốt.

     Không quăng vứt…

    b) Lúc không sử dụng: cất vào…,treo trên

    Nhờ có cặp mà khi đi học, những dụng cụ của em, như thước kẻ, bút mức không bị mất mát,…sách vở không bị bẩn thỉu, quăn góc…Những khi mưa gió, cặp giữ cho sách vở, bút mực khỏi bị ướt. Cho nên em không bao giờ quẳng vứt bừa bãi để cặp bị trầy xước. Buổi sáng đến trường, em nhẹ nhàng đặt nó vào hộc bàn. Buổi chiều về nhà, em cẩn thận treo cặp vào đinh móc trên tường.

     

              2.3. Giúp học sinh tích lũy vốn từ và làm giàu tưởng tượng của các em trong làm văn:

                       2.3.1 Tích lũy vốn từ:

         - Vốn từ được tích lũy từ nhiều nguồn: giao tiếp hàng ngày; đọc sách, báo; xem, nghe truyền hình, truyền thanh; trao đổi với bạn bè; cô giáo cung cấp,…

         - Ghi chép khi nhận được các từ ngữ dùng để miêu tả theo các chủ đề cụ thể như:

         + Các từ thường dùng trong miêu tả cây cối: xanh mướt, mơn mởn, rung rinh, um tùm, khẳng khiu, rực rỡ, mỡ màng, vàng úa, xơ xác, lác đác,…

         + Các từ thường dùng trong miêu tả đồ vật: tròn xoe, vuông vắn, nhỏ nhắn, xinh xắn, đo đỏ,…

         + Các từ thường dùng trong miêu tả con vật: oai vệ, rón rén, lặc lè, nhanh thoăn thoắt, chậm chạp, ì ạch, phành phạch, tinh nhanh, ranh mãnh,…

         + Các từ thường dùng trong miêu tả người: tả em bé ( mịn màng, mũm mĩm, chũn chĩn, mập mạp, chập chững, bập bẹ, bi bô, mếu máo, hau háu, ngộ nghĩnh, bướng bỉnh, nghịch ngợm,…). Tả cụ già ( nhăn nheo, hom hem, dò dẫm, đồi mồi, bỏm bẻm, móm mém, lẩm cẩm, run rẩy,…).

              * Chú ý sử dụng từ láy, từ tượng hình, tượng thanh để miêu tả cho sinh động.

    HÌNH DÁNG

    Từ đơn

    Từ ghép

    Từ láy

    Từ gần nghĩa

    So sánh

    Tròn

    Tròn vo - Tròn xoe -Tròn xoay

    Tròn trịa

    Tròn trĩnh

    Tròn trặn

    Tròn tròn

    Bầu bĩnh

    Phúng phính

    Tròn như hòn bi

    Tròn như mặt nguyệt

    Tròn vo như hạt mít (như quả dưa hấu)

    vuông

    Vuông tròn – Vuông góc

    Vuông vắn

    Vuông vức

     

    Vuông như chữ điền

    Thẳng

    Thẳng băng – Thẳng tắp – Thẳng đuột

    Thẳng thắn

    Thẳng thớm

    Ngay ngắn

    Ngay thẳng

    Thẳng như kẻ chỉ

    Ngay như tượng

    Ngay như khúc gỗ

    Cong

    Cong veo – Cong vút

    Cong cong

    Ngoằn ngoèo

    Quanh co

    Cong như hình chữ S

    Méo

    Méo xệch

    Méo xẹo – Méo mó

    Cong quẹo

    Méo như củ ấu

    Mới

    Mới tinh – Mới toanh – Mới nguyên

    Mới mẻ

    Tân kỳ - Tân thời

    Mới tinh như tờ giấy trắng

    Cũ mèm – Cũ rích – Cũ xưa

    Cũ kỹ - Cũ càng

    Cổ xưa – Cổ lỗ sĩ

    Xưa như trái đất

    Lành

    Lành mạnh – Nguyên lành

    Lành lặn

    Nguyên vẹn

    Nguyên xi

    Lành như cục đất

    Lành như cục bột

    Rách

    Rách bươm – Rách nát

    Rách rưới

    Sứt mẻ - Nham nhở

    Rách như tổ đỉa

    Đẹp

    Đẹp tươi – Xinh đẹp

    Đẹp đẽ

    Xinh xắn – Xinh tươi

    Đẹp như tiên

    Xấu

    Xấu hoắc

    Xấu xí – Xấu xa

    Ghê gớm – Ghê tởm

    Xấu như ma

     

    KÍCH THƯỚC

    Từ đơn

    Từ ghép

    Từ láy

    Từ gần nghĩa

    So sánh

    To

    To lớn – To kềnh – To sụ - To đùng

    To tướng – To tát

    Lớn phổng – Lớn lao – Đồ sộ - Khổng lồ - Kếch sù – Đẫy đà

    To như núi

    To như hộ pháp

    Lớn nhanh như thổi

    Nhỏ

    Nhỏ bé – Nhỏ xíu – Nhỏ nhẹ - Nhỏ thó

    Nhỏ nhắn – Nhỏ nhoi – Nhỏ nhẻ

    Bé bỏng – Bé hạt tiêu – Tí hon – Tí xíu

    Nhỏ như hạt đậu

    Bé như con kiến

    Cao

    Cao dỏng – Cao ngất – Cao ráo – Cao lêu nghêu – Cao vút – Cao nhòng

    Cao cao

    Lêu nghêu –

    Chọc trời

    Thượng dẳng

    Thượng thặng

    Cao như núi

    Cao như sếu vườn (như hạc, như cò hương)

    Cao nhòng như cây sào

    Thấp

    Thấp kém –

    Thấp hèn –

    Thấp lùn

    Thâm thấp

    Lùn tịt

    Lùn tè

    Thấp như vịt

    Lùn tè như cái nấm

    Dày

    Dày đặc –

    Dày cui –

    Dày cộm

    Dày dặn

    Chen chúc –

    Chi chít –

    Rậm rạp –

    Sum suê

    Dày như mặt thớt

    Dày như mo

    Mỏng

    Mỏng dính –

    Mỏng tanh –

    Mỏng teng

    Mỏng manh–

    Mỏng mảnh-

    Mong mỏng

    Lưa thưa –

    Rải rác –

    Lác đác

    Mỏng như giấy

    Mỏng như lá lúa

    Dài

    Dài nghiêu –

    Dài thong –

    Dài ngoẵng –

    Dài đuỗn

    Dài dằng dặc

    Long thòng

    Lướt thướt

    Dài như sông

    Dài đuỗn như mặt ngựa

    Ngắn

    Ngắn gọn

    Ngắn tun hủn

    Ngăn ngắn

    Ngắn ngủn

    Cũn cỡn –

    Cụt ngủn –

    Cộc lốc

    Ngắn bằng gang tay

    Rộng

    Rộng lớn –

    Rộng huếch

    Rộng rãi

    Bao la –

    Mênh mông- Bát ngát

    Rộng như biển

    Hẹp

    Chật hẹp

    Hèm hẹp –

    Hẹp hòi

    Chật chội –

    Chật ních

    Chật như nêm cối

     

     

    VẬT LIỆU

    Từ đơn

    Từ ghép

    Từ láy

    Từ gần nghĩa

    So sánh

    Nhẵn

    Nhẵn bóng

    Nhẵn thín

    Nhẵn cứng

    Nhẵn lì

    Nhẵn nhụi

    Phẳng phiu

    Phẳng lì

    Trơn tru

    Trơn láng

    Bóng láng

    Bóng lộn

    Nhẵn như chùi

    Nhẵn như phản hàng thịt

    Trơn như đổ mỡ

    Nhám

    Nhám sì

    Nham nhám

    Ram ráp

    Lởm chởm

    Sần sùi

    Gồ ghề

    Lồi lõm

    Nhám như cá nhám

    Sạch

    Sạch bong

    Sạch trơn

    Sạch sẽ

    Tinh khiết

    Sạch như chùi

    Sạch như li như lau

    Bẩn

    Bẩn thỉu

    Dơ bẩn

    Dơ dáy

    Dơ duốc

    Lem luốc

    Trầy trụa

    Loang lỗ

    Sứt mẻ

    Bẩn như chó

    Bẩn như hủi

    Bẩn như ma lem

    Cứng

    Cứng rắn

    Cứng ngắc

    Cứng đờ

    Cứng cỏi

    Cứng cáp

    Chắc chắn

    Rắn chắc

    Chắc nịch

    Bền chặt

    Cứng như thép

    Cứng như que củi

    Cứng như khúc gỗ

    Mềm

    Mềm dẻo

    Mềm nhũn

    Mềm mại

    Dẻo quẹo

    Mượt mà

    Thướt tha

    Yểu điệu

    Uyển chuyển

    Mềm như bún

    Mượt như nhung

    Yểu điệu như tiểu thư

    Trong


    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Thị Thùy Phương @ 22:07 28/11/2013
    Số lượt xem: 611
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến