Thời gian

Tài nguyên dạy học

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Liên hệ

    Click [vào đây] để gửi e-mail cho tôi.

    Các website liên kết

    "Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người" (Hồ Chí Minh)

    Chào mừng quý vị đến với website của Trần Thị Thùy Phương - Phan Thị Tuyết Ánh - Trần Thị Minh Hà

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Sáng kiến kinh nghiệm >

    “MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT TIẾT DỰNG ĐOẠN MỞ BÀI, KẾT BÀI LỚP 4 ; 5 ”

     

    I/ ĐẶT VẤN ĐỀ:

    A/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

         Ở bậc Tiểu học, môn Tiếng Việt là môn học chủ đạo. Trường Tiểu học là nơi đầu tiên trẻ em được học tập Tiếng việt, chữ Việt với phương pháp nhà trường, phương pháp học tập tiếng mẹ đẻ thật sự khoa học.

         Học sinh Tiểu học chỉ có thể học tập được các môn học khác khi có kiến thức tiếng Việt bởi đối với người Việt, tiếng Việt là phương tiện giao tiếp, là công cụ trao đổi thông tin và chiếm lĩnh tri thức. Trong môn Tiếng Việt có nhiều phân môn, mỗi phân môn chứa đựng một bộ phận kiến thức nhất định, chúng bổ trợ cho nhau để người học học tốt Tiếng Việt. Bắt đầu khởi động bằng Học vần, tiếp theo là Tập viết, Chính tả, Luyện từ và câu,… cuối cùng là Tập làm văn. Làm văn, viết văn và hành văn là cái đích cuối cùng cao nhất của việc học tập Tiếng Việt ở Tiểu học. Đối với học sinh tiểu học, biết nói cho đúng, cho đủ, cho rõ nghĩa đã là khó; để nói hay, nói có cảm xúc và cảm nhận được cái đẹp trong cuộc sống để viết lại thành những bài văn thì lại khó nhiều. Cái khó ấy lại chính là cái đích mà phân môn Tập làm văn đòi hỏi người học cần đạt tới.

         Kiến thức Tập làm văn ở Tiểu học tập trung nhiều trong chương trình Tiếng Việt lớp 4: 5 với các kiểu bài như: trao đổi ý kiến, giới thiệu hoạt động, tóm tắt tin tức, kể chuyện, miêu tả,… Trong đó, khó nhất đối với học sinh là văn miêu tả. Điều này thể hiện ở chỗ, những bài làm văn miêu tả của học sinh còn rất nhiều hạn chế. Trong thực tế, ta thấy, những bài văn miêu tả của học sinh tiểu học thường ngắn ngủi, cụt lủn, kém hình ảnh, diễn đạt yếu; các bài viết thường rơi vào tình trạng liệt kê, kể lể, khô cứng. Muốn cho bài văn miêu tả của các em đạt được sự lôi cuốn đối với người chấm bài thì  phần quan trọng không kém là mở bài và kết bài. Phần mở bài là phần đầu tiên ( vị trí của nó bao giờ cũng nằm ở đầu bài) là phần trước nhất đến với người đọc, gây cho người đọc cảm giác, ấn tượng ban đầu về bài viết, tạo ra âm hưởng chung toàn bài. Phần này có vai trò và tầm quan trọng khác đặc biệt vì mở bài gọn gàng, hấp dẫn sẽ tạo được hứng thú ở người đọc và thường báo hiệu một nội dung tốt:

    + M.Gorki đã nói: “ Khó hơn cả là phần đầu, cụ thể là câu đầu. Cũng như trong âm nhạc, nó chi phối giọng điệu của cả tác phẩm và người ta tìm nó rất lâu”

    + Tục ngữ có câu: Đầu xuôi đuôi lọt.

           Riêng phần kết bài là phần cuối cùng ( vị trí của nó bao giờ cũng nằm ở cuối bài), là phần sau hết đến với người đọc, gây cho người đọc cảm giác, ấn tượng cuối cùng về bài viết, tạo ra âm hưởng chung cho toàn bài. Phần này có vai trò và tầm quan trọng đặc biệt vì một kết bài gọn gàng, nhẹ nhàng, đặc sắc sẽ lưu lại được cảm tình tốt đẹp ở người đọc. Chính vì những quan điểm trên, chúng tôi đã chọn đề tài:

    “”MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT TIẾT

    DỰNG ĐOẠN MỞ BÀI, KẾT BÀI  LỚP 4;5 ”

    B. Nội dung:

              I. Phần lí luận:

                       Bản thân chúng tôi  nghĩ rằng chất lượng học sinh  vẫn là hàng đầu, là quan trọng nhất trong nền giáo dục. Có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà xã hội đang đòi hỏi. Chính vì vậy mục tiêu mới của giáo dục tiểu học đã nhấn mạnh đến yêu cầu của  giáo dục tiểu học,  là phải góp phần đào tạo những người lao động linh hoạt, năng động, sáng tạo. Yêu cầu này đòi hỏi phải đổi mới toàn diện và đồng bộ giáo dục tiểu học trong đó cần ưu tiên đổi mới phương pháp giáo dục dạy học.

         Để thực hiện mục tiêu giáo dục mới và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học. Bộ giáo dục đã  có một số văn bản chỉ đạo, hướng dẫn về đổi mới về nội dung và phương pháp dạy học ở Tiểu học trong đó phân môn Tiếng Việt với phương châm "Lấy học sinh là nhân vật trung tâm", biết trân trọng sự sáng tạo dù nhỏ của học sinh, biết sử dụng hệ thống câu hỏi gợi mở để hướng dẫn học sinh phân tích tìm hiểu bài tập.

           Công tác chỉ đạo của nhà trường cũng như mỗi cán bộ giáo viên đã nhận thức sâu sắc về các cuộc vận động lớn của ngành như “ Đổi mới công tác quản lí và nâng cao chất lượng giáo dục”, phong trào thi đua: “ Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”...  thầy chỉ là người tổ chức hướng dẫn. Vì vậy đứng trước tình hình và nhiệm vụ mà xã hội giao phó, bản thân chúng tôi là người giáo viên tiểu học, chúng tôi luôn học hỏi kinh nghiệm và chịu khó đào sâu suy nghĩ để tìm ra phương pháp giảng dạy tốt nhất giúp học sinh tiếp thu kiến thức dễ dàng nhất.

              II. Thực trạng vấn đề:

    Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi gặp phải những thuận lợi, khó khăn sau:

    a. Thuận lợi:

    - Trước hết, đó là sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Lãnh đạo nhà trường, đã tạo mọi điều kiện có thể để giáo viên giảng dạy có chất lượng như thời gian, tài liệu...

    - Nhà trường có những biện pháp động viên, khuyến khích học sinh và giáo viên, tạo động lực thúc đẩy công việc có hiệu quả tốt.

    - Học sinh chăm ngoan, hiếu học.

    b. Khó khăn:

        Nhìn chung nhiều năm nay, chúng ta đã chú ý quan tâm nhưng điều kiện thực tế còn nhiều hạn chế.

         + Về phía phụ huynh học sinh: Một số phụ huynh rất ít quan tâm đến việc học tập của con cái do điều kiện kinh tế của nhân dân ở địa phương còn khó khăn. Rất nhiều gia đình phụ huynh phải đi làm ăn xa, việc học tập ở nhà, mua sắm tài liệu tham khảo còn hạn chế. Do vậy, ảnh hưởng  không nhỏ đến chất lượng học tập của các em.

        + Về phía giáo viên: Một số bộ phận giáo viên xem nhẹ tiết dạy “ Dựng đoạn mở bài, kết bài”, chưa khai thác hết khả năng kiểm tra đánh giá của học sinh khi tham gia tiết học.

    + Về phía học sinh: Học theo kiểu máy móc, xem nhẹ khi làm mở bài, kết bài, chỉ chú trọng phần thân bài đủ là được.

    Chính vì những lí do trên, chúng tôi đã phỏng vấn học sinh hai lớp 5/1, 5/6 kết quả thực trạng như sau:

    + Số học sinh thích có những bài văn mở bài hay đạt  11%.

    + Số học sinh thích có những bài văn kết bài hay đạt  13 %.

    + Số học sinh rất thích bài văn có những đoạn mở bài, kết bài hay chỉ 12%

    ( tập trung vào những em khá giỏi và có năng khiếu).

               + Số học sinh còn hời hợt không quan trọng khi làm mở bài hoặc kết bài đạt 45%

    Làm động tác kiểm tra vở, chúng tôi xem vở tập làm văn của sáu lớp  năm: 5/1, 5/2, 5/3, 5/4, 5/5, 5/6 thì thấy chất lượng bài viết sử dụng đoạn mở bài hay, kết bài hay  như mong muốn, số lượng bài đạt điểm khá giỏi chưa nhiều, đặc biệt nhiều em diễn đạt còn lủng củng, diễn đạt ý cụt ngủn.

    Đồng thời chúng tôi tiến hành khảo sát chất lượng của hai lớp: 5/1 và 5/6.

    Chúng tôi cho cả hai lớp cùng làm chung một đề văn.

    Đề bài: Em hãy tả ngôi trường thân yêu đã gắn bó với em trong nhiều năm qua. Kết quả: 

    Lớp

    Sĩ số

    Giỏi

    Khá

    Trung bình

    Yếu

    SL

    %

    SL

    %

    SL

    %

    S.L

    %

    5/1

    38

    4

    10.5

    10

    26.3

    24

    63.2

     

     

    5/6

    39

    6

    15.2

    10

    25.6

    13

    33.2

     

     

                             

          

       Đặc biệt qua bài viết của các em chúng tôi còn nhận thấy:

    *) Về nội dung bài Tập làm văn

    - 10- 15% học sinh bài viết văn có sử dụng cách mở bài gián tiếp.

    - 10- 15% học sinh bài viết văn có sử dụng cách kết  bài  mở rộng.

                - 40% học sinh không đạt yêu cầu về mở bài.

    - 10% học sinh còn đôi chỗ dùng từ, đặt câu đoạn chưa đạt. Văn viết gò bó thiếu tự nhiên, ít sáng tạo.

    *) Về kĩ năng:

    - Diễn đạt vụng, luẩn quẩn, tối nghĩa do dùng từ viết sai, dùng chưa chính xác về nội dung do dùng từ tối nghĩa 25%.

    Sở dĩ chất lượng bài viết về mở bài và kết bài  của các em chưa cao do những nguyên nhân sau:

    + Học sinh đọc sách ít, vốn kiến thức ít.

    + Không nắm chắc yêu cầu của đề bài ra.

    + Chưa thấy được hết cái đích cần đạt.

    + Chưa biết cách liên kết câu, ý, đoạn, bài.

    + Chưa ham học nên chưa chú trọng rèn luyện kỹ năng.

    + Do phương pháp dạy của giáo viên khiến học sinh thụ động tiếp thu, giáo viên chưa động viên được học sinh.

    + Việc chấm bài của giáo viên cũng chưa chỉ ra được lỗi của học sinh một cách khoa học, nhất quán.

    + Việc kiểm tra học sinh sửa lỗi trong vở Tập làm văn trên lớp của giáo viên còn  hạn chế.

    Tóm lại việc khảo sát chất lượng để phân loại học sinh là biện pháp cần làm ngay để từ đó giáo viên có biện pháp cụ thể, chi tiết, sát đối tượng hơn nữa trong giảng dạy nói chung, trong mục đích tiến hành dạy tốt tiết “ Dựng đoạn mở bài, kết bài”.

              III. Biện pháp:

    Để khắc phục tình trạng trên, giúp cho giáo viên và học sinh lớp 4; 5 dạy và học  tốt các tiết  “ Dựng đoạn mở bài, kết bài lớp 4; 5”, chúng tôi đã đề ra một số biện pháp:

    Biện pháp 1: Giáo viên cần có kiến thức về cấu tạo mở bài và kết bài

    Dưới đây là cấu tạo của một mở bài ( trực tiếp và gián tiếp) và cấu tạo của kết bài

    ( không mở rộng và kết bài mở rộng):

    Cấu tạo của mở bài

                      Nội dung

                             Hình thức

    Mở bài trực tiếp

    Mở bài gián tiếp

    -Giới thiệu vấn đề

    Đây là trọng tâm của mở bài có nhiệm vụ tạo nên tình huống có vấn đề mà ta sẽ giải quyết trong phần thân bài.

    a)     Giới thiệu vấn đề.

    b)    Xác định giới hạn của vấn đề( nếu có)

    Gồm hai phần:

    1.Gợi mở vào đề:

    -Bằng cách đưa ra một mẩu chuyện, một so sánh, một liên tưởng, một câu văn thơ, một âm thanh, đưa đến một bài viết.

    2) Giới thiệu vấn đề:

    a) Giới thiệu nội dung vấn đề.

    b)Xác định giới hạn  vấn đề.

     

    -Dung lượng và độ dài phải cân xứng với thân bài, kết bài.

    - Nên viết ngắn gọn, khéo léo, có sức thu hút, gợi hứng thú.

    - Tránh nói vòng vèo mà không vào được vấn đề.

    -Tránh viết lan man, không ăn khớp với phần sau.

    - Tránh viết dài dòng, cầu kì, bay bướm làm phân tán sự chú ý.

     

                                            Cấu tạo của kết  bài

                      Nội dung

                         Hình thức

    Kết  bài không mở rộng

    Kết bài mở rộng

    -Kết thúc ý chính của cả bài.

    -Cách kết bài này nhanh gọn, tự nhiên, giản dị, dễ tiếp nhận và thích hợp với những bài viết ngắn.

    -Nếu không khéo sử dụng thì sẽ khô khan, ít hấp dẫn.

    (1) Suy nghĩ : hiểu giá trị.

    (2)Tình cảm: yêu quý

    (3)Hành động: giữ gìn, bảo vệ.

    -Là phần cuối cùng của bài văn, vừa  kết thúc ý chính của bài, vừa mở ra một hướng mới gợi cho người đọc tiếp tục cảm xúc, suy nghĩ sau khi hết bài.

     

     

    (1) Suy nghĩ                tình

     cảm         hành động ( có thể dùng một hoặc hai hoặc cả ba yếu tố trên).

    (2) Mở rộng: Nêu một câu hỏi- Nêu một ý lạ- Đưa ra một lời bình – Đưa ra một câu văn, câu thơ…

    -Dung lượng và độ dàicủa kết bài phải cân xứng với mở bài và thân bài.

    -Nên viết gọn gàng, nhẹ nhàng, sâu sắc, gợi cảm xúc ở người đọc.

    -Tránh viết lan man, dài dòng không ăn khớp với các phần trên.

      

         Với biện pháp này, đòi hỏi người giáo viên phải tự mình học hỏi nâng cao kiến thức chuyên môn thông qua các tài liệu tham khảo, qua mạng, qua đồng nghiệp để nắm chắc kiến thức phân biệt thế nào là cấu tạo của một mở bài và cấu tạo của một kết bài, cách mở bài gián tiếp và cách kết bài mở rộng.

    Biện pháp 2: Một số cách mở bài trực tiếp( gián tiếp) và kết bài không mở rộng( mở rộng) sử dụng qua các bài dạy lớp 4 và lớp 5.

        Từ cấu tạo của mở  bài và kết bài, giáo viên biết được một số cách mở bài ( trực tiếp hoặc gián tiếp) và kết bài không mở rộng( mở rộng).

    2.1 Mở bài:

    a.1 Mở bài  trực tiếp

                      Nội dung

    Mở bài trực tiếp

    Mở bài gián tiếp

    (1)     Giới thiệu vấn đề

    (2)     Ở đâu

    (3)     Lúc nào

    Với ba số :( 1); ( 2); (3); hướng dẫn học sinh có thể tự viết 6 kiểu mở bài trực tiếp: 123-132-213-231-312-321

    Gồm hai phần;

    1)Gợi mở vào đề:

     Bằng cách đưa ra một mẩu chuyện, một so sánh, một liên tưởng, một câu văn thơ, một âm thanh, đưa đến một bài viết

     

     a.2 Vận dụng vào một số tiết học

    Ví dụ 1:

     Tập làm văn ( bài tiết 49 Tuần 25 lớp 5 SGK trang 75   )

    Đề bài: Chọn một trong các đề sau:

         1. Tả quyển sách Tiếng Việt 5, tập hai của em.

    2.Tả cái đồng hồ báo thức.

    3. Tả một đồ vật trong nhà mà  em yêu thích.

    Hướng dẫn học sinh làm theo các cách trên:

                                       Mở bài trực tiếp

    Mở bài 123

    Quyển sách Tiếng việt tập 2 là quyển sách cần thiết với em biết bao! Ba đã mua cho em ở nhà sách Phương vào đầu năm học.

    Mở bài 132

    Quyển sách Tiếng việt tập 2 là quyển sách cần thiết với em biết bao! Vào đầu năm học, ba đã mua cho em ở nhà sách Phương.

    Mở bài 213

    Ở nhà sách Phương có nhiều loại sách dành cho học sinh. Nhưng em chỉ để ý đến quyển sách Tiếng Việt. Và ba đã mua cho em vào đầu năm học.

     

    Mở bài 231

    Ở nhà sách Phương có nhiều loại sách dành cho học sinh. Vào đầu năm học, em được  ba  mua cho em quyển sách Tiếng Việt tập hai.

     

    Mở bài 312

    Vào đầu năm học, ba đã mua cho em quyển sách tiếng Việt tập hai.Đây là quyển sách giáo khoa được học sinh mua nhiều nhất ở nhà sách Phương.

     

     

    Mở bài 321

    Vào đầu năm học, em được cùng ba đến nhà sách Phương, ba đã mua cho em quyển sách tiếng Việt tập hai.

     

    Ví dụ 2:

    Tập làm văn ( bài tiết 16 Tuần 8 lớp 5 SGK trang83   )

    Luyện tập tả cảnh

    (Dựng đoạn mở bài, kết bài)

    Đề bài: Tả cảnh đẹp thiên nhiên ở đại phương em.

    Mở bài trực tiếp

    Mở bài 123

    Ngũ Hành Sơn là cảnh đẹp nổi tiếng của Đà Nẵng. Nhân dịp đầu xuân mới, em được cùng với gia đình đi tham quan cảnh đẹp này.

    Mở bài 132

    Ngũ Hành Sơn là cảnh đẹp nổi tiếng của Đà Nẵng. Em được cùng với gia đình đi tham quan cảnh đẹp này nhân dịp đầu xuân mới.

    Mở bài 213

    Em được cùng với gia đình đi tham quan cảnh đẹp Ngũ Hành Sơn nhân dịp đầu xuân mới.

    Mở bài 231

    Em đi tham quan cảnh đẹp Ngũ Hành Sơn nhân dịp đầu xuân mới cùng với gia đình.

    Mở bài 312

    Nhân dịp đầu xuân mới, em đi tham quan cảnh đẹp Ngũ Hành Sơn cùng với gia đình.

    Mở bài 321

    Nhân dịp đầu xuân mới, cùng với gia đình, em đi tham quan cảnh đẹp Ngũ Hành Sơn .

    Ví dụ 3:

    Đề bài: Tả cái cặp (Tuần 9 Lớp 4)

    Mở bài trực tiếp

    Mở bài 123

    Cái cặp là một đồ dùng mà em ao ước từ lâu. Ba đã mua cho em chiếc cặp ở nhà sách Đà Nẵng, vào đầu năm học mới.

    Mở bài 132

    Cái cặp là một đồ dùng mà em ao ước từ lâu. Vào đầu năm học mới, ba đã mua cho em chiếc cặp ở nhà sách Đà Nẵng.

    Mở bài 213

    Ở nhà sách Đà Nẵng trưng bày rất nhiều đồ dùng học sinh. Nhưng em chỉ thích chiếc cặp. Ba đã mua cho em vào đầu năm học mới.

     

    Mở bài 231

    Ở nhà sách Đà Nẵng trưng bày rất nhiều đồ dùng học sinh. Vào đầu năm học mới,  ba đã mua cho em chiếc cặp mà em ao ước.

     

    Mở bài 312

    Vào đầu năm học mới, ba đã mua cho em chiếc cặp mà em ao ước, ở nhà sách Đà Nẵng .

     

    Mở bài 321

    Vào đầu năm học mới, ba đã đưa em đến nhà sách Đà Nẵng, ba  đã mua cho em chiếc cặp mà em ao ước.

     

     

    b. Mở bài gián tiếp

     b.1 Một số cách mở bài gián tiếp

    Mở bài gián tiếp

    a) Gợi mở vào đề bằng một âm thanh

    “ Tách..tách…tách…” một âm thanh hơi là lạ vang lên làm cho em quay lại nhìn vào chiếc cặp mà cô bán hàng ở nhà sách Đà Nẵng đang giới thiệu. Ba đã mua cho em chiếc cặp này để chuẩn bị năm học mới.

    b) Gợi mở vào đề bằng một câu nói

    “ Đẹp quá! Đẹp quá!”. Em reo lên khi nhìn thấy một chiếc cặp mới tinh, xinh xắn đang trưng bày ngay quầy chính  ở nhà sách Đà Nẵng. Thế là, ba mua ngày chiếc cặp cho em để chuẩn bị năm học mới.

    c) ) Gợi mở vào đề bằng một liên tưởng

    Nhìn vài bạn trong lớp mang chiếc cặp cũ của anh chị đi học, lòng em dâng lên một cảm giác khó tả, cảm thấy mình rất hạnh phúc khi có được chiếc cặp mới tinh. Chiếc cặp này em được ba tặng để chuẩn bị năm học mới.

    d) Gợi mở vào đề bằng một đối thoại

    - Ba ơi, ba mang gói gì về to thế?

    - Giở ra mà xem! Chắc con sẽ thích lắm!

    - Cám ơn ba! Vui quá, em háo hức mở ra, ái chà : một chiếc cặp mới tinh!

    e) Gợi mở vào đề bằng cách liệt kê

    Hè nào em cũng về quê thăm bà ngoại. Ôi chao, vườn nhà ngoại trồng biết bao loài cây: này cô xiêm yểu điệu, kia bác nhãn trầm ngâm, dáng cao ngất của chú dừa …Thế nhưng hấp dẫn em vẫn là cây chuối tiêu sai quả đứng khiêm tốn ở góc vườn.`

    g) Gợi mở  bằng câu hát, câu thơ, câu văn…

    “ Ai trồng cây

    Người đó có bóng mát

    Trong vòm cây

    Chim hót lời mê say…”

    Quả thật vậy, cây bàng trường em đã cho chúng em bao kỉ niệm tuổi thơ đây là loài  cây em yêu thích nhất.

    h) Gợi mở  bằng câu cảm

    Ôi! Đẹp quá! Tiếng thốt lên ngạc nhiên gây chú ý cho em và các bạn đang chơi ở sân trường hướng mắt nhìn theo ngón tay chỉ của bạn Châu. Đó chính là chùm hoa phượng đỏ thắm mới bắt đầu xuất hiện trên cây phượng đã được trồng cách đây hơn mười năm.

    i) Gợi mở bằng một so sánh

    Ở chuồng gà nhà em có nuôi nhiều loại gà khác nhau: gà tre bé nhỏ, gà chọi vẻ “ gây chuyện”, cô gà mái ục ịch….nhưng nổi bật nhất vẫn là chú gà trống “ hùng dũng”. Đây là chú gà đẹp về dáng mà cả tính cần cù, chịu khó.

    k) Thế là hôm nay, em đành phải từ biệt chiếc áo sơ-mi thân thuộc.Vì lẽ nào em cũng không nhớ. Nhưng chỉ biết là hôm nay tổng kết năm học, em mặc bộ quần áo mới nhất để tới trường dự buổi lễ quan trọng ấy. Tuy vậy, những kỉ niệm về tấm áo cũ vẫn in đậm trong tâm trí em.

    Giới thiệu hoàn cảnh nảy sinh câu chuyện.

    l) Hôm nay là một ngày vui và cũng là một ngày buồn của em. Em vui vì được một chiếc áo len mới. Còn em buồn vì không được mặc lại chiếc áo len cũ kĩ ấy, chiếc áo đã để lại trong tâm trí em nhiều kỉ niệm sâu sắc, êm đềm.

    Nêu cảm nghĩ đối với đối tượng sẽ kể.

     

    b.2. Vận dụng vào một số tiết dạy

    Ví dụ 1:

    Tập làm văn:  Luyện tập xây dựng mở bài  trong bài văn miêu tả cây cối( tr 75 SGK tập 2 lớp 4 Tuần 25 tiết 50)

     Đề bài : Hãy viết đoạn mở bài ( theo cách mở bài gián tiếp) cho bài văn tả cây phượng, cây hoa mai hoặc cây dừa. (tr 75)

    Loại cây

    Mở bài gián tiếp

    Bằng cách

    Cây phượng

    “ Ve ve ve hè về! Vui vui, hè về! Cây xanh xanh rợp nắng bên đường…”

    Lời bài hát thật rộn ràng khi chúng em nhìn thấy cây phượng xanh trong sân trường đã nở hoa đỏ rực! Hoa phượng – loài hoa em thích nhất!

     

     

     

    Bằng một câu hát.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Cây hoa mai

    -Nhàn ơi! Mang cái kéo ra đây nhé!

    - Vâng ạ!

    Các bạn biết không? Nội tôi đang chăm sóc cây mai để chuẩn bị đón Tết. Cây hoa mai- loài cây báo hiệu mùa xuân về- loài hoa em thích nhất!

     

    Gợi mở vào đề bằng một đối thoại.

    Cây dừa

    Có ai đó đã nói: những quả dừa nằm trên cao như  đàn lợn con ngộ nghĩnh, tàu dừa như chiếc lược chải vào mây xanh. Quả thật, những hình ảnh thơ mộng ấy đã làm cây dừa in sâu vào tâm trí người Việt Nam ta. Cây dừa – loài cây em yêu thích nhất trong khu vườn nhà nội.

    Bằng một lời nhận xét.

      

    Ví dụ 2:

    Tập làm văn: Luyện tập xây dựng mở bài trong văn miêu tả đồ vật.

              ( Tuần 19 tiết 37 trang 10 SGK lớp 4 tập 2)

    Đề bài: Tả cái bàn học.

    Mở bài gián tiếp

     

    Nội dung

    Bằng cách

    Tả cái bàn học.

     Tôi rất yêu gia đình tôi, nhà của tôi. Ở đó, tôi có bố mẹ, ông bà và em bé Na, có những đồ vật, đồ chơi thân quen và một góc học tập sáng sủa. Nổi bật trong góc học tập đó là cái bàn học xinh xắn của tôi.

     

    Bằng một lời bình.

     

    “ Thích quá! Thích quá!” Em reo lên khi được cô chủ nhiệm xếp vào ngồi ngay chiếc bàn học mới tinh. Cảm giác lâng lâng khó tả làm  sao!

    Gợi mở vào đề bằng một câu cảm

     

     Ví dụ 3:

    Tập làm văn: Luyện tập xây dựng mở bài, kết bài trong bài văn miêu tả con vật.

             ( Tuần 32 tiết 64 SGK lớp 4 tập 2 trang 141)

    Đề bài: Viết đoạn mở bài gián tiếp cho bài văn tả một con vật mà em yêu thích.

    Con vật

    Mở bài gián tiếp

    Bằng cách

    Tả con chó

    “Gâu!…Gâu!…Gâu!” Tiếng sủa dữ dội làm cho mọi người nhìn theo hướng con Vàng đang chạy theo bóng người vụt qua cửa. Đây là chú chó khôn ngoan, dễ thương và trung thành. Con chó này là quà bà ngoại tặng cho em năm sinh nhật bảy tuổi của em đấy!

     Băng âm thanh

     

     

     

     

     

     

    Tả con gà trống

    “ Hay quá! Hay  quá! Hay quá!” Hàng loạt tiếng vỗ tay cổ vũ đều đổ dồn vào con gà trống của nhà  em đã đánh bại được một địch thủ nặng kí hơn. Đây là chú gà đẹp đẽ mà lì đòn mà mẹ em nuôi được tám tháng rồi!

    Bằng một câu nói

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Tả con chim đại bàng

    Nếu người dân miền biển biết được trước ngày biển động nhờ có cánh chim báo bão, thì người dân Trường Sơn lại có thể biết được sắp có mưa to gió lớn nhờ những đôi cánh đại bàng đang sải vội vã trên bầu trời trong xanh không một gợn mây. Loài chim đại bàng dũng mãnh ấy em yêu biết bao!

    Bằng một lời bình.

     Ví dụ 4:

    Tập làm văn:                   Luyện tập tả người

                                          ( Dựng đoạn mở bài)

     ( Tuần 19 Tiết 37 SGK trang 12 Tập 2 Lớp 5)

    Đề bài: Hãy viết mở bài gián tiếp trong các đề văn sau:

    a)     Tả một người thân trong gia đình em.

    b)     Tả một người bạn cùng lớp.

    c)      Tả một ca sĩ đang biểu diễn.

    d)    Tả một nghệ sĩ hài mà em thích.

    Đề bài

    Mở bài gián tiếp

    Bằng cách

    Tả một người thân trong gia đình em.

     

    “ Con dù lớn vẫn là con của mẹ

    Đi suốt đời lòng mẹ vẫn thương con.”

    Ôi! Tình mẹ yêu con chỉ  có thể so sánh bởi biển nước mênh mông. Mẹ! Người em yêu nhất trên đời.

    Băng câu thơ.

    Tả một người bạn cùng lớp.

     

    -Làm bài  hết chưa?

    -Chưa cậu ạ!

    - Mình giảng lại cho cậu nhé!

    Tính sẵn lòng, ân cần, nhiệt tình của Thành làm cả lớp em ai cũng quý mến. Riêng em đây là người bạn thân của em từ năm lớp một đến bây giờ.

    Bằng một đối thoại

    Tả một ca sĩ đang biểu diễn.

    Mỗi ca sĩ đều có tài năng riêng và phong cách biểu diễn khác nhau: Thanh Lam mạnh mẽ, giọng trầm lắng; Cẩm Li dịu dàng, mượt mà, Hồng  Nhung ngây thơ, trong sáng …nhưng giọng ca sâu lắng luôn để lại cho mọi người tình cảm , chính là ca sĩ Thu Hiền.  Chủ nhật vừa qua, em đã được cùng bố mẹ xem ca sĩ Thu Hiền biểu diễn ở nhà hát Trưng Vương Đà Nẵng.

    Bằng một  sự so sánh.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Tả một nghệ sĩ hài mà em thích.

     

    Nghệ sĩ hài- người mang đến món ăn tinh thần cho mọi người. Mỗi miền đất nước lại có những nghệ sĩ hài trong lòng công chúng. Này nhé! Miền Bắc có Quang Thắng, Tự Long, miền Nam lại có Hồng Tơ, Minh Nhí, Phi Phụng…nhưng người tạo nên những tràng cười khoan khoái, lời nói dí dỏm, có duyên mà ai ai cũng yêu thích đó chính  là Hoài Linh- Nghệ sĩ hài tài ba.

    Bằng cách liệt kê.

     

         Tóm lại,  qua  hai cách mở bài, không nhất thiết phải gò bó học sinh làm mở bài theo cách nào mà để cho các em tự chọn cho mình cách mở bài hợp lý nhất và phù hợp với khả năng của từng em. Mở bài gián tiếp phải bám sát vào yêu cầu của đề, không lan man, xa đề, không rườm rà.

    2.2. Kết bài

    a.1 Kết bài không mở rộng

                      Nội dung

    Kết  bài không mở rộng

    Kết bài mở rộng

    -Kết thúc ý chính của cả bài.

    -Cách kết bài này nhanh,gọn, tự nhiên, giản dị, dễ tiếp nhận và thích hợp với những bài viết ngắn.

    -Nếu không khéo sử dụng thì sẽ khô khan, ít hấp dẫn.

    (1) Suy nghĩ : hiểu giá trị.

    (2)Tình cảm: yêu quý

    (3)Hành động: giữ gìn, bảo vệ.

    Với ba số ( 1), ( 2), ( 3) học sinh có thể viết 6 kiểu  kết bài không mở rộng:    123- 132- 213-231-312-321

    -Là phần cuối cùng của bài văn, vừa  kết thúc ý chính của bài, vừa mở ra một hướng mới gợi cho người đọc tiếp tục cảm xúc, suy nghĩ sau khi hết bài.

     

     

    (1) Suy nghĩ        tình cảm         hành động ( có thể dùng một hoặc hai hoặc cả ba yếu tố trên).

    (2) Mở rộng: Nêu một câu hỏi- Nêu một ý lạ- Đưa ra một lời bình – Đưa ra một câu văn, câu thơ…

     

    a.2 Vận dụng vào một số tiết dạy:

    Ví dụ 1:

    Đề bài: Tả cây phượng trong sân trường em.

    Kết bài không mở rộng

    Kết bài 123

    Kết bài 132

    Ngồi ngắm cây phượng, em càng hiểu về cây phượng hơn. Phượng mang đến bao nhiêu lợi ích cho môi trường sống của con người- nó cũng là hình ảnh gắn bó với tuổi học trò. Em càng yêu quý cây phượng bấy  nhiêu và tự hứa sẽ chăm sóc tốt để phượng mãi mãi là loài cây mọi người yêu thích.

    Ngồi ngắm cây phượng, em càng hiểu về cây phượng hơn. Phượng mang đến bao nhiêu lợi ích cho môi trường sống của con người- nó cũng là hình ảnh gắn bó với tuổi học trò. Càng hiểu bao nhiêu, em càng chăm sóc tốt cho cây phượng bấy nhiêu để phượng mãi mãi là loài cây mà em yêu quý nhất.

    Kết bài 213

    Em rất yêu quý cây phượng vì em hiểu được một điều mới mẻ là phượng mang đến nhiều lợi ích cho môi trường sống của con người- nó cũng là hình ảnh thân thiết với tuổi học trò. Càng hiểu bao nhiêu, em càng chăm sóc tốt cho cây bấy nhiêu để phượng mãi mãi là một loài cây mà mọi người ưa thích.

    Kết bài 231

    Em rất yêu quý cây phượng và hứa sẽ chăm sóc tốt cây vì em hiểu được một điều là phượng mang đến nhiều lợi ích cho môi trường sống của con người- nó cũng là hình ảnh thân thiết với tuổi học trò.

    Kết bài 312

    Trồng được một cây phượng đẹp trong trường, em càng phải chăm sóc tốt vì em hiểu được phượng mang đến bao ích lợi cho môi trường sống- nó cũng là hình ảnh gắn bó với tuổi học trò. Càng hiểu bao nhiêu em càng yêu quý và xem phượng như một người bạn thân bấy nhiêu.

    Kết bài 321

    Trồng được một cây phượng đẹp trong trường, em càng phải chăm sóc tốt . Em sẽ yêu quý và xem phượng như một người bạn thânvì em hiểu được phượng mang đến bao ích lợi cho môi trường sống- nó cũng là hình ảnh gắn bó với tuổi học trò.

     

    Ví dụ 2:

    Đề bài:Tả con gà trống.

    Kết bài không mở rộng

    Kết bài 123

    Ngồi ngắm chú gà trống, em càng  hiểu được bao lợi ích gà mang đến- là loài vật gắn bó thân thiết với  người hơn cả. Càng hiểu bao nhiêu, em yêu quý chú gà bấy nhiêu sẽ luôn chăm sóc tốt để gà trống mãi mãi là con vật được mọi người ưa thích.

    Kết bài 132

    Ngồi ngắm chú gà trống, em càng  hiểu được bao lợi ích gà mang đến- là loài vật gắn bó thân thiết với  người hơn cả. Càng hiểu bao nhiêu, em chăm sóc tốtyêu quýchú gà bấy nhiêu tốt để gà trống mãi mãi là convật được mọi người ưa thích.

    Kết bài 213

    Em rất yêu quý chú gà trống vì em hiểu sâu sắc được một điều gà là con vật gắn bó, thân thiết với con người. Càng hiểu bao nhiêu, em càng chăm sóc cho chú gà bấy nhiêu để gà trống mãi mãi là con vật mà mọi người ưa thích.

    Kết bài 231

    Em rất yêu quý chú gà trống và sẽ chăm sóc chú cho thật tốt.Vì em hiểu sâu sắc được một điều gà  là con vật gắn bó, thân thiết với con người, mang đến cho người bao lợi ích.

    Kết bài 312

    Em sẽ chăm sóc cho chú gà ngày càng chóng lớn, khỏe mạnh vì em hiểu được rằnggà là con vật gắn bó, thân thiết với con người, mang đến cho người bao lợi ích.Em yêu quý chú gà này biết bao!

    Kết bài 321

    Em sẽ chăm sóc cho chú gà ngày càng chóng lớn, khỏe mạnh. Em yêu quý chú gà và xem chú như người bạn thân vì em hiểu chú mang đến bao lợi ích cho con người- chú là cái đồng hồ báo thức đúng giờ nhất của gia đình em đấy!

     

    b.1 Kết bài mở rộng

    Bằng cách

    Nội dung

    a) Kết bài bằng cách nêu một câu hỏi

    Các bạn có biết mỗi lần trông thấy sắc đỏ hoa phượng bắt đầu xuất hiện trên cây, lòng mình lại nao nao hay không? Vì đây là dấu hiệu báo mùa hè sắp đến với những ngày nghỉ vui chơi sau một năm học đầy cố gắng và tiến bộ.

    b) Kết bài bằng cách nêu một ý mới lạ

    Màu đỏ hoa hồng…! Màu đỏ khăn quàng…! Những lời phê màu đỏ hồng của cô giáo trong trang vở của em…! Tất cả những màu đỏ tươi thắm, rực rỡ như muốn cất cất tiếng vang lên chúc cho em đạt những điểm mười đỏ chói – Yêu cả màu đỏ hoa hồng! …. Em yêu hoa hồng biết bao!

    c) Kết bài bằng cách đưa ra một lời bình

    Mỗi lần nhìn ngắm cây phượng, lòng em lại dâng trào một cảm xúc lâng lâng khó tả vì được tự do thưởng thức sự ưu đãi và vẻ đẹp tuyệt vời mà thiên nhiên dâng tặng cho con người. Và em nghĩ rằng nếu mọi người biết quý trọng thiên nhiên, biết bảo vệ thiên nhiên thì họ sẽ được tận hưởng của cải vô tận này. Bằng không thì…

    d) Kết bài bằng cách đưa ra một câu danh ngôn

    Cành phượng đung đưa trước gió như vẫy gọi, như nhắc nhở đôi điều… Hoa phượng đỏ rung rinh trong nắng như đôi môi chúm chím muốn nhắn nhủ đôi lời… Và em hiểu rằng điều nhắc nhở đó điều nhắn nhủ, đó là lời  của Bác Hồ dạy:

    Vì lợi ích mười năm trồng cây

    Vì lợi ích trăm năm trồng người.

    e) Kết bài bằng cách đưa ra một câu thơ

    Tiếng gà gáy bay lên không trung, vang xa khắp bầu trời chẳng những là một tiếng kèn làm mọi người thức giấc, tỉnh dậy mà còn là tiếng loa nhắc nhở chúng ta phải luôn yêu quý loài vật, yêu thiên nhiên như tấm gương của Bác:

    Con cá rô ơi chớ có buồn

    Chiều chiều Bác vẫn gọi rô luôn…

     

    b.2 Vận dụng vào một số tiết dạy

    Ví dụ 1:

    Tập làm văn: Kết bài trong bài văn kể chuyện ( tr 122)

    ( Tuần 12 Tiết 24 SGK trang 122 Tập I lớp 4)

    Đề bài: Viết kết bài theo kiểu mở rộng của truyện  Một người chính trực  hoặc Nỗi dằn vặt của An-đrây-ca.

     

    Đề bài

    Nội dung

    Bằng cách

     Một người chính trực

    Bạn có muốn trở thành  người chính trực không?

    Ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, chúng ta phải học tập đức tính trung thực, thẳng thắn trong mọi học tập, sinh hoạt, vui chơi các bạn nhé!

    `Bằng một câu hỏi.

    Nỗi dằn vặt của An-đrây-ca.

    Sự dằn vặt như bóng tối bao trùm tâm hồn chúng ta. Khi làm một điều gì, muốn không có nỗi dằn vặt ấy, chúng ta phải biết suy xét việc gì cần thì làm  trước đừng vì ham muốn cá nhân để như bạn An-đrây-ca , các bạn nhé!

    - Băng một lời bình.

     

    Ví dụ 2:

    Tập làm văn : Luyện tập xây dựng kết bài trong bài văn miêu tả cây cối( tr 82)

    ( Tuần 26 Tiết 51 SGK trang 82 tập 2 lớp 4)

    Đề bài: Em hãy viết kết bài mở rộng cho một trong các đề tài dưới đây:

     

    Đề bài

    Nội dung

    Bằng cách

    Cây tre ở làng quê

    Mai đây đi đâu xa, đến nơi nào dù có đẹp bao nhiêu, hình ảnh cây tre, lũy tre xanh làng tôi luôn in đậm trong trái tim em!  Bởi tre làng em “ đã cùng con người đánh giặc, giữ nước, giữ làng quê, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”.

    Kết bài bằng cách nêu một ý mới lạ.

    Cây sen

    Em yêu hoa sen, một loài hoa giản dị, thanh cao. Sen không có vẻ đẹp kiêu sa của hoa hồng, hoa lan, hoa cúc,…nhưng sen vẫn được các nhà văn, nhà thơ ca ngợi nhờ nét đẹp hiếm có mà các loài hoa khác không dễ gì có được, đó là gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

    Kết bài bằng cách đưa ra một lời bình.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Cây đa cổ thụ

    Ông đa ơi! Ông hãy khỏe mạnh mãi để sống cùng  người làng quê tôi nhé! Bởi, ông là người thân, người cho chúng tôi bao kỉ niệm thơ ấu đẹp đẽ.

    Kết bài bằng cách đưa ra một lời bình.

     

        

         Ví dụ 3:          

         Tập làm văn: Luyện tập xây dựng mở bài, kết bài trong bài văn miêu tả con vật.

             ( Tuần 32 tiết 64 SGK lớp 4 tập 2 trang 141)

    Đề bài: Viết đoạn kết bài mở rộng cho bài văn tả một con vật mà em yêu thích.

    Đề bài

    Nội dung

    Bằng cách

    Tả con chó

    Theo thời gian chú chó sẽ già đi nhưng với em nó luôn là người bạn thân thiết, người bạn cho em bao kỉ niệm tuổi thơ ấu. Ki ơi! Tao yêu mày lắm!

    Kết bài bằng cách nêu một ý mới lạ.

    Tả con mèo

    Từ khi có chú mèo, nhà em có “ hung thần” giữ của. Bầy chuột kia chả dám bén mảng, nụ cười rạng rỡ trên môi mẹ , bố khỏi thức khuya canh chừng.

    Kết bài bằng cách đưa ra một lời bình.

     

     

    Ví dụ 4:

    Tập làm văn:                   Luyện tập tả người

                                          ( Dựng đoạn mở bài)

     ( Tuần 19 Tiết 37 SGK trang 12 Tập 2 Lớp 5)

    Đề bài: Hãy viết mở bài gián tiếp trong các đề văn sau:

    e)     Tả một người thân trong gia đình em.

    f)       Tả một người bạn cùng lớp.

    g)      Tả một ca sĩ đang biểu diễn.

    h)    Tả một nghệ sĩ hài mà em thích.

    Đề bài

    Kết bài mở rộng

    Bằng cách

    Tả một người thân trong gia đình em.

     

    Mẹ ơi! Càng hiểu nỗi  vất vả của mẹ bao nhiêu, con càng ra sức học tập để vơi đi những nếp nhăn của thời  gian. Bởi con biết rằng:

    “ Con dù lớn vẫn là con của mẹ

    Đi suốt đời lòng mẹ vẫn thương con.”

     

    Kết bài bằng cách đưa ra một câu thơ

    Tả một người bạn cùng lớp.

     

    Ôi! Ước sao thời gian dừng lại để chúng em được vui chơi, học hành bên nhau. Mãi mãi, tình bạn chúng em luôn bền vững như câu ca:

    Tình bạn là nghĩa tương thân

    Trước sau như một ân cần có nhau.

    Bằng một câu ca

    Tả một ca sĩ đang biểu diễn.

    Yêu sao những người cho chúng “ liều thuốc bổ”, cho cuộc sống trở nên đẹp hơn, tươi hơn. Em ước mơ sẽ trở thành một người nghệ sĩ tài ba như thế.

    Bằng ý mới lạ.

     

     

     

     

     

     

              Tóm lại,  kết bài tuy chỉ là một phần nhỏ trong bài văn nhưng lại rất quan trọng bởi đoạn kết bài thể hiện được nhiều nhất tình cảm của người viết với đối tượng miêu tả. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải gợi ý để học sinh biết cách làm phần kết bài có mở rộng bằng cảm xúc của mình một cách tự nhiên thông qua các câu hỏi gợi mở, sau đó cho các em nhận xét, sửa sai và chắt lọc để có được những kết bài hay.

    Biện pháp 3: Phát huy vai trò tổ chức dạy học theo nhóm trong tiết.                

              Dạy học theo nhóm chính là tạo cho các em có môi trường học tập tích cực , giúp các em chủ động mở rộng suy nghĩ và thực hành các kĩ năng tư duy ( phân tích, khái quát, tổng hợp), tạo điều kiện cho các em học tập với bạn làm cho các em hứng thú, tích cực hơn. Đặc điểm tâm sinh lí của  học sinh lớp 4 và 5 là muốn thể  hiện bản lĩnh,  sự tự tin của cá nhân nên giáo viên cũng nên tạo nhiều hình thức học nhóm( nhóm ngẫu nhiên, nhóm 2; 4, hoặc 6…) để các em có cơ hội chiếm lĩnh kiến thức, phá


    Nhắn tin cho tác giả
    Trần Thị Thùy Phương @ 22:06 28/11/2013
    Số lượt xem: 2171
     
    Gửi ý kiến